Thuận lợi và khó khăn của hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang Philippines
- Thuận lợi
Philippines là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam tại ASEAN và là thị trường tiềm năng đối với các sản phẩm nông nghiệp, bao gồm ngũ cốc, thủy sản, các chế phẩm ăn được, chè, cà phê (với giá trị xuất khẩu các sản phẩm này chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu của Việt Nam sang Philippines). Các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam cũng đã khẳng định được vị thế tại thị trường Philippines khi Việt Nam luôn đứng trong tốp các nhà cung ứng và chiếm một thị phần đáng kể trong kim ngạch nhập khẩu của Philippines (ngũ cốc chiếm 36,6%, cà phê và gia vị chiếm 57,3%, thủy sản tươi chiếm 19,1%).
Ngoài các sản phẩm nông nghiệp, Việt Nam cũng xuất khẩu nhiều các sản phẩm máy móc, thiết bị; sắt thép, đồ nội thất… sang thị trường Philippines. Tuy các sản phẩm này mới chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong nhập khẩu của Philippines, nhưng tiềm năng và dư địa để tiếp tục mở rộng thị phần tại thị trường nước này còn rất đáng kể.
Trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sang Philippines vẫn có dư địa phục hồi và tăng trưởng nhờ một số yếu tố thuận lợi như:
- Nhu cầu nhập khẩu của Philippines ngày một tăng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một lớn của tiêu dùng và sản xuất trong nước. Với dân số đông, cơ cấu dân số trẻ và tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển, Philippines đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu đối với các mặt hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất. Điều này mở ra cơ hội lớn cho các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam, khi có thể cung cấp nhiều mặt hàng phù hợp cả về chất lượng lẫn giá cả, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường này.
- Việt Nam có lợi thế sản xuất nhiều mặt hàng thiết yếu với giá cả cạnh tranh, phù hợp với xu hướng tiêu dùng của người dân Philippines. Đồng thời, Việt Nam và Philippines cùng là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do trong khu vực (8 FTA), giúp hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu vào Philippines.
- Các sản phẩm của Việt Nam ngày càng được biết đến và tiêu thụ nhiều hơn tại Philippines, đặc biệt là các mặt hàng nông sản chế biến, cà phê... Sự hiện diện ngày càng rõ nét của hàng Việt trong các hệ thống bán lẻ, chuỗi siêu thị và kênh phân phối hiện đại tại Philippines cho thấy sức lan tỏa tích cực của thương hiệu Việt tại thị trường này. Mặc dù cộng đồng người Việt tại Philippines không quá đông đảo, nhưng các cộng đồng dân cư của Philippines có nhiều thói quen và sử dụng sản phẩm tương tự người Việt Nam, do đó nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm Việt Nam cũng tương đối tốt.
- Các doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Những cải tiến này có thể giúp hàng hóa Việt Nam cạnh tranh tốt hơn trong thời gian tới.
- Khó khăn
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chưa có tính bổ sung cao cho cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Philippines. Tốp 10 nhóm hàng được Philippines nhập khẩu nhiều nhất bao gồm: máy móc, thiết bị điện/cơ khí, dầu, quặng, phương tiện vận tải… So sánh với Tốp 10 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Philippines, Việt Nam mới chỉ có vị thế ở 04 mặt hàng là máy móc, thiết bị điện/ cơ khí, nhựa và phương tiện vận tải. Các mặt hàng thế mạnh khác của Việt Nam như ngũ cốc, giày dép, thủy sản lại chưa phải là nhóm hàng có nhu cầu nhập khẩu lớn nhất của Philippines.
Bảng - So sánh tốp 10 sản phẩm Philippines nhập khẩu nhiều nhất và tốp 10 sản phẩm Việt Nam xuất khẩu sang Philippines nhiều nhất năm 2025
|
Tốp 10 sản phẩm nhập khẩu nhiều nhất của Philippines |
Tốp 10 sản phẩm Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Philippines |
|
Chương 85: Máy điện và thiết bị điện và các bộ phận của chúng; máy ghi và tái tạo âm thanh/hình ảnh và âm thanh truyền hình, bộ phận và phụ kiện của các loại máy trên |
Chương 10: Ngũ cốc |
|
Chương 84: Máy và thiết bị cơ khí; các bộ phận của chúng |
Chương 85: Máy điện và thiết bị điện và các bộ phận của chúng; máy ghi và tái tạo âm thanh/hình ảnh và âm thanh truyền hình, bộ phận và phụ kiện của các loại máy trên |
|
Chương 90: Dụng cụ và thiết bị quang học, nhiếp ảnh, điện ảnh, đo lường, kiểm tra, chính xác, y tế hoặc phẫu thuật; các bộ phận và phụ kiện của chúng |
Chương 25: Muối; lưu huỳnh; đất và đá; thạch cao, vôi và xi măng |
|
Chương 15: Chất béo và dầu có nguồn gốc từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật và các sản phẩm tách từ chúng; chất béo ăn được đã chế biến; các loại sáp động vật hoặc thực vật |
Chương 87: Xe trừ phương tiện chạy trên đường sắt hoặc đường tàu điện và các bộ phận và phụ kiện của chúng |
|
Chương 26: Quặng, xỉ và tro |
Chương 84: Máy và thiết bị cơ khí; các bộ phận của chúng |
|
Chương 08: Quả và quả hạch (nuts) ăn được; vỏ quả thuộc họ cam quýt hoặc các loại dưa |
Chương 09: Cà phê, chè, chè Paragoay và các loại gia vị |
|
Chương 71: Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý, kim loại quý, kim loại được dát phủ kim loại quý, và các sản phẩm của chúng; đồ trang sức làm bằng chất liệu khác; tiền kim loại |
Chương 21: Các chế phẩm ăn được khác |
|
Chương 74: Đồng và các sản phẩm bằng đồng |
Chương 64: Giày, dép, ghệt và các sản phẩm tương tự; các bộ phận của các sản phẩm trên |
|
Chương 39: Plastic và các sản phẩm bằng plastic |
Chương 03: Cá và động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác |
|
Chương 87: Xe trừ phương tiện chạy trên đường sắt hoặc đường tàu điện và các bộ phận và phụ kiện của chúng |
Chương 39: Plastic và các sản phẩm bằng plastic |
Nguồn: ITC Trade Map, 2026
Hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN và các nước có FTA với Philippines. Những đối thủ này (đặc biệt là Trung Quốc) có cơ cấu xuất khẩu tương tự Việt Nam nhưng có lợi thế hơn về công nghệ, thương hiệu và sự hiện diện tại thị trường. Trong bối cảnh căng thẳng thuế quan ở thị trường Hoa Kỳ làm dịch chuyển dòng thương mại, cạnh tranh ở các thị trường ngoài Hoa Kỳ, trong đó có Philippines, cũng đứng trước sức ép lớn hơn. Do đó, để gia tăng sức cạnh tranh, Việt Nam cần có chiến lược đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm, đồng thời tận dụng các ưu đãi thương mại từ các hiệp định song phương và đa phương với Philippines.
Các chính sách xuất nhập khẩu của Philippines thường xuyên thay đổi đột ngột, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc cập nhật thông tin, đáp ứng yêu cầu tuân thủ và xây dựng kế hoạch thâm nhập thị trường.
Người tiêu dùng Philippines ngày càng quan tâm đến thương hiệu, thiết kế và hình ảnh sản phẩm. Họ ưu tiên lựa chọn các sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, mẫu mã bắt mắt và thường bị ảnh hưởng bởi các chiến dịch quảng bá mạnh mẽ, đặc biệt là thông qua các kênh truyền thông xã hội, người nổi tiếng (KOLs) hoặc các nền tảng thương mại điện tử. Đây là xu hướng tiêu dùng hiện đại, đòi hỏi sản phẩm không chỉ tốt về chất lượng mà còn phải có giá trị cảm nhận cao, mang lại trải nghiệm tiêu dùng khác biệt.
Nguồn: Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế - VCCI
