EVFTA và Ngành Nhựa Việt Nam: Tình hình xuất nhập khẩu nhựa vào thị trường EU

26/10/2021    416

Mặc dù tính chung Việt Nam nhập siêu nhựa từ thế giới nhưng đối với đối tác EU thì Việt Nam lại xuất siêu nhựa sang thị trường này với giá trị xuất siêu tăng dần qua các năm, từ 213 triệu USD năm 2010 lên hơn gấp đôi - 467 triệu USD năm 2019.

Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu nhựa từ EU vào Việt Nam tăng dần qua các năm nhưng với giá trị không đáng kể. Năm 2019, giá trị kim ngạch nhập khẩu nhựa từ EU chỉ là 287 triệu USD, chiếm chưa đầy 2% tổng kim ngạch nhập khẩu nhựa từ thế giới của Việt Nam.

Các nước EU Việt Nam có nhập khẩu nhiều nhất các sản phẩm nhựa năm 2019 là: Đức (44%), Ý (16%), Tây Ban Nha (8%), Bỉ (7%), và Pháp (7%).

Về sản phẩm nhập khẩu, trong tổng lượng kim ngạch nhập khẩu nhựa từ EU của Việt Nam năm 2019 thì 59% là nhựa nguyên liệu và 41% là nhựa sản phẩm (bán thành phẩm/thành phẩm). Cơ cấu nhập khẩu này cũng tương tự với cơ cấu nhập khẩu nhựa chung của Việt Nam từ thế giới.

Bảng: Top sản phẩm nhựa Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ EU năm 2019

Mã HS

Mô tả sản phẩm

 

Giá trị nhập khẩu năm 2019 (triệu USD)

Tỷ trọng

 

Nguyên liệu

 

 

'3909

Nhựa amino, nhựa phenolic và polyurethan, dạng nguyên sinh.

58

20,2%

 

'3901

Polyme từ etylen, dạng nguyên sinh.

30

10,4%

 

'3907

Polyaxetal, polyete khác và nhựa epoxit, dạng nguyên sinh; polycarbonat, nhựa alkyd, este polyallyl và các polyeste khác, dạng nguyên sinh.

21

7,3%

 

'3912

Xenlulo và các dẫn xuất hóa học của nó, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác, dạng nguyên sinh.

13

4,4%

 

'3906

Polyme acrylic dạng nguyên sinh.

11

4,0%

 

 

Thành phẩm và Bán thành phẩm

 

 

'3926

Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 39.01 đến 39.14.

43

14,9%

 

'3921

Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.

17

6,0%

 

'3917

Các loại ống, ống dẫn và ống vòi, và các phụ kiện dùng để ghép nối chúng

16

5,5%

 

'3919

Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.

10

3,6%

 

'3920

Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác.

10

3,6%

 

Nguồn: ITC Trademap

Xuất khẩu

EU là thị trường xuất khẩu trọng điểm, cũng là thị trường nhiều tiềm năng đối với các sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhựa sang EU tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nhựa từ thị trường này. Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu nhựa sang EU là 330 triệu USD thì năm 2019 con số này là 754 triệu USD. 

EU hiện là thị trường xuất khẩu nhựa lớn nhất của Việt Nam, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nhựa của Việt Nam năm 2019. Trong EU, các nước mà Việt Nam có xuất khẩu nhựa lớn nhất là: Đức (25%), Hà Lan (16%), Pháp (15%), Ý (6%), Ba Lan (6%).

Tương tự tình hình xuất khẩu nhựa nói chung của Việt Nam ra thế giới, nguyên liệu nhựa xuất khẩu sang EU chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng xuất khẩu nhựa sang EU của Việt Nam – 13% năm 2019. Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu thành phẩm là các sản phẩm nhựa bao bì, gia dụng, các loại ống xây dựng, tấm phiến màng lá.

Bảng: Top sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang EU năm 2019

Mã HS

Mô tả sản phẩm

Giá trị xuất khẩu năm 2019 (triệu USD)

Tỷ trọng

 

Nguyên liệu

 

 

'3907

Polyaxetal, polyete khác và nhựa epoxit, dạng nguyên sinh; polycarbonat, nhựa alkyd, este polyallyl và các polyeste khác, dạng nguyên sinh.

85

11,4%

'3902

Polyme từ propylen hoặc từ các olefin khác, dạng nguyên sinh.

6

0,8%

 

Thành phẩm và bán thành phẩm

 

 

'3923

Các sản phẩm dùng trong vận chuyển hoặc đóng gói hàng hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác, bằng plastic.

326

43,9%

'3926

Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 39.01 đến 39.14.

227

30,6%

'3924

Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic.

42

5,7%

'3917

Các loại ống, ống dẫn và ống vòi, và các phụ kiện dùng để ghép nối chúng (ví dụ, các đoạn nối, khuỷu, vành đệm), bằng plastic.

26

3,5%

'3920

Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác.

10

1,4%

'3921

Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.

9

1,3%

'3918

Tấm trải sàn bằng plastic, có hoặc không tự dính, dạng cuộn hoặc dạng tấm rời để ghép; tấm ốp tường hoặc ốp trần bằng plastic, như đã nêu trong Chú giải 9 của Chương này.

6

0,8%

'3919

 Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.

3

0,4%

Nguồn: ITC Trademap

Tình hình xuất khẩu nhựa Việt Nam sang EU năm 2020

Đầu năm 2020, dịch bệnh COVID-19 bùng phát tại Trung Quốc và lan ra toàn thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương mại toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của COVID-19, rất nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành xuất khẩu đã bị thiệt hại nặng nề bởi dịch bệnh này.

Cũng là một trong những ngành phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nhưng ngành nhựa Việt Nam gần như không bị tác động bởi đại dịch COVID-19. Trong khi kim ngạch xuất khẩu của rất nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 10 tháng năm 2020 tăng trưởng âm so với cùng kỳ 2019, thì kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa nguyên liệu và thành phẩm lại tăng trưởng nhẹ.

Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu nhựa 10 tháng năm 2020 là 1,09 tỷ USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2019. Còn kim ngạch xuất khẩu nhựa thành phẩm 10 tháng đầu năm 2020 đạt gần 3 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng đối với thị trường EU, xuất khẩu nhựa của Việt Nam sang EU 6 tháng đầu năm giảm 9.9 % so với cùng kỳ năm 2019. Thực trạng này là do giai đoạn khởi phát dịch bệnh COVID-19 thì EU là một trong những khu vực dịch bệnh lây lan nhanh và rộng nhất, khiến cho tiêu dùng ở khu vực này giảm sút nặng nề, ảnh hưởng tới nhập khẩu nhựa vào khu vực này. Tuy nhiên từ tháng 07/2020, khi dịch bệnh COVID-19 bắt đầu được kiểm soát tại nhiều nước EU, cùng với hàng loạt các chính sách kích cầu được áp dụng ở các nước này, xuất khẩu nhựa của Việt Nam sang khu vực này đã bắt đầu phục hồi dần trở lại, đặc biệt ở các thị trường truyền thống như Hà Lan, Ba Lan, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Ý.

Sau khi EVFTA có hiệu lực từ ngày 01/08/2020, nhựa là một trong các nhóm sản phẩm của Việt Nam sớm tận dụng được các cơ hội từ Hiệp định này để tăng trưởng xuất khẩu sang EU. Cụ thể, sau 2 tháng kể từ khi EVFTA có hiệu lực, lượng kim ngạch nhựa xuất khẩu sang EU được cấp chứng nhận xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan EVFTA đã đạt hơn 49 triệu USD.  

Nguồn: Trích dẫn: "Cẩm nang doanh nghiệp EVFTA và Ngành Nhựa Việt Nam
- Trung tâm WTO và Hội nhập