Khái niệm “Thẩm định chuỗi cung ứng”

Khái niệm “thẩm định (chuỗi cung ứng)/(supply-chain) due diligence” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện có tên “Các Nguyên tắc Định hướng của Liên Hợp Quốc về Kinh doanh và Quyền Con người” (UNGP), một văn kiện quốc tế có tính khuyến nghị được Ủy ban Nhân quyền của Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng 6/2011. 

Sau UNGP, nhiều văn kiện, chính sách, pháp luật quy định về trách nhiệm “thẩm định chuỗi cung ứng” với nội hàm tương tự cũng lần lượt được soạn thảo, ban hành và thực thi bởi cả các tổ chức liên chính phủ và các quốc gia/khu vực trên thế giới. 

Cả UNGP và các văn bản sau đó đều không có định nghĩa chính xác nào về “thẩm định chuỗi cung ứng”. Tuy nhiên, từ các nội dung được mô tả/diễn giải trong các tài liệu này, có thể khái quát nội hàm của quy định “thẩm định chuỗi cung ứng” như sau: 

“Thẩm định chuỗi cung ứng” là trách nhiệm của doanh nghiệp trong nhận diện, ngăn chặn, hạn chế tác động và chịu trách nhiệm về các rủi ro, ảnh hưởng bất lợi thực tế hoặc tiềm tàng về quyền con người, môi trường... phát sinh trong hoạt động kinh doanh và toàn bộ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.

Thuật ngữ “due diligence”

Từ góc độ pháp lý, thuật ngữ “due diligence” có nguồn gốc từ luật hợp đồng và luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, với 02 cách hiểu phổ biến:

  • Một là để chỉ “nghĩa vụ cẩn trọng” (“duty of care”) với tính chất là một “chuẩn ứng xử”, theo đó người có nghĩa vụ “due diligence” cần bảo đảm sự cẩn trọng tối thiểu trong hành động để không gây tác động bất lợi tới các chủ thể khác. Ví dụ, một người đốt lá trong vườn của mình có nghĩa vụ phải chọn ngày ít gió, kiểm soát ngọn lửa để không cháy lan sang vườn nhà hàng xóm.
  • Hai là để chỉ “nghĩa vụ mẫn cán” với tính chất là một kiểu nghĩa vụ pháp lý - nghĩa vụ về cách thức thực hiện (“obligation of behavior”), để phân biệt với nghĩa vụ về kết quả (“obligation of result”). Ví dụ, một bác sỹ chữa cho bệnh nhân mắc bệnh nặng chỉ có nghĩa vụ tận trách, sử dụng hết năng lực của mình để chữa bệnh cho bệnh nhân (loại nghĩa vụ về cách thức), mà không có nghĩa vụ bảo đảm chữa khỏi bệnh cho họ (loại nghĩa vụ về kết quả).

Xuất phát từ tính chất này, “due diligence” được sử dụng trong pháp luật về thẩm định chuỗi cung ứng với ý nghĩa cốt lõi là nghĩa vụ tận trách của doanh nghiệp trong kiểm soát nhằm ngăn chặn và loại bỏ rủi ro vi phạm các tiêu chuẩn nhất định (quyền con người, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng…) trong quá trình thực hành kinh doanh của mình. “Due diligence” không đòi hỏi doanh nghiệp phải bảo đảm chuỗi cung ứng của mình không xảy ra bất kỳ rủi ro hay tác động bất lợi nào với con người, môi trường...[1]

Tuy nhiên, các cách dịch sát nghĩa ra tiếng Việt (mẫn cán, cẩn trọng hay tận trách) của thuật ngữ này đều không bảo đảm thể hiện được đủ nội hàm của “supply-chain due diligence”. Do đó, Nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng cụm từ “thẩm định chuỗi cung ứng”, một cách dịch thuật ngữ ở mảng kiểm toán tài chính nhưng cho phép phản ánh tương đối sát tính chất của nhóm quy định này. và đã được một số cơ quan, tổ chức ở Việt Nam sử dụng trong vài năm trở lại đây.

Nguồn: Tổng hợp của Nhóm Nghiên cứu TTWTO-VCCI

 

Nguồn: Nhóm WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế - VCCI


[1] Ủy ban châu Âu, Nghiên cứu về các yêu cầu thẩm định trong chuỗi cung ứng, 2020, trang 156-158