Tin tức

Tận dụng ưu đãi thuế quan CPTPP: Nhìn rộng để chủ động nguồn cung và bứt phá

Sau hơn 7 năm thực thi, Hiệp định CPTPP đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, một sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam không đồng nghĩa với việc nghiễm nhiên được hưởng ưu đãi thuế quan, trừ khi đáp ứng đúng các quy tắc xuất xứ của Hiệp định...

Theo số liệu được Bộ Công Thương đưa ra tại tọa đàm “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”, năm 2025 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đạt 124,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 70,6 tỷ USD. Dù vậy, dư địa khai thác ưu đãi thuế quan vẫn còn rất lớn khi tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu được cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) CPTPP hiện ở mức khá khiêm tốn. 

DƯ ĐỊA LỚN TỪ VIỆC CẤP CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) dẫn chứng năm 2025, tổng nhu cầu nhập khẩu của khối CPTPP (trừ Việt Nam) đạt khoảng 4.250 tỷ USD. Với kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD, thị phần của Việt Nam mới chỉ chiếm hơn 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả khối. Đáng chú ý, tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi năm 2025 chưa đầy 10%.

Phân tích rào cản này, ông Khanh cho rằng khó khăn về quy tắc xuất xứ không xảy ra ở tất cả mặt hàng mà chủ yếu tập trung ở nhóm dệt may (do yêu cầu xuất xứ từ 3 công đoạn trở đi). Về tiêu chuẩn lao động và môi trường, không phải thị trường nào cũng áp đặt yêu cầu quá khắt khe như châu Âu, điển hình như Malaysia không yêu cầu quá cao về tiêu chuẩn lao động hay môi trường như các nước châu Âu. Vì vậy, cần bóc tách rõ từng vướng mắc từ quy tắc xuất xứ, phát triển bền vững hay thông tin thị trường để đưa ra giải pháp xử lý phù hợp và cụ thể. 

Đánh giá sâu hơn về tiến trình thực thi, bà Trần Thanh Bình, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết khi Hiệp định mới có hiệu lực năm 2019, tỷ lệ tận dụng C/O chỉ đạt 2% tổng kim ngạch xuất khẩu sang khối (do thời điểm đó mới có Canada và Mexico áp dụng). Đến năm 2025, con số này đã tăng lên 10%, tương đương hơn 6 tỷ USD kim ngạch. Tốc độ tăng trưởng C/O bình quân đạt 1 - 2%/năm, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn đầu. 

Dù tỷ lệ này chưa tương xứng với tiềm năng, nhưng đây vẫn là nỗ lực đáng ghi nhận của cộng đồng doanh nghiệp. Các mặt hàng Việt Nam từ nông sản, dệt may, da giày, sắt thép đến mây tre đan, thủ công mỹ nghệ đã hiện diện thực tế kèm nhãn "Made in Vietnam" và C/O tại những thị trường xa xôi thuộc 4 châu lục như Canada, Mexico, Chile. 

XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG BỀN VỮNG

Bà Trần Thanh Bình nhấn mạnh CPTPP là hiệp định thế hệ mới sở hữu những quy tắc xuất xứ cải tiến, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. Điểm tân tiến của CPTPP nằm ở cơ chế cộng gộp toàn phần và quy định cho phép xét xuất xứ thuần túy đối với tất cả các nước thành viên nội khối. 

Chẳng hạn, một sản phẩm chế biến tại Việt Nam có thể kết hợp nguyên liệu nhập khẩu từ Australia hay New Zealand, nhưng khi xuất sang Malaysia hoặc Singapore vẫn đạt tiêu chí xuất xứ thuần túy. Để phát huy lợi thế này, doanh nghiệp cần minh bạch hồ sơ và chủ động tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu từ các nước thành viên nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ của từng nhóm hàng.

Ở góc độ quản lý vĩ mô, ông Ngô Chung Khanh chia sẻ trên cương vị Chủ tịch CPTPP năm 2026, Việt Nam đang tích cực thúc đẩy các hoạt động kết nối nội khối về nguyên liệu, công nghiệp hỗ trợ, logistics và đầu tư. Bộ Công Thương cũng đang đồng chủ trì với Canada trong phiên đối thoại giữa CPTPP và EU nhằm kết nối hai nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng của cả hai bên. Bám sát các cam kết cấp Bộ trưởng từ năm 2025, nhiệm vụ năm 2026 là cụ thể hóa các hoạt động kết nối, đưa CPTPP trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu chiến lược cho doanh nghiệp Việt Nam. 

Không dừng lại ở không gian khu vực châu Á - Thái Bình Dương, CPTPP đang mở rộng quy mô toàn cầu với sự tham gia của Vương quốc Anh, Costa Rica, UAE và Argentina. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy, nhìn xa rộng hơn để có sự chuẩn bị bài bản và chủ động đón đầu cơ hội trong tương lai. 

Đặc biệt, việc tận dụng CPTPP không còn đơn thuần là câu chuyện xin một tờ C/O để hưởng thuế suất thấp hơn đằng sau một sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi, mà là cả một cấu trúc nguồn cung: nguyên liệu ở đâu, sản xuất ở đâu, liên kết với những doanh nghiệp nào và khả năng chứng minh xuất xứ ra sao. Do đó, ông Khanh khuyến nghị doanh nghiệp cần thiết kế lại chuỗi cung ứng. Xác định quy tắc xuất xứ của thị trường mục tiêu, từ đó xác định được nguyên liệu nhập từ đâu, có thể lấy từ Nhật Bản, Australia, New Zealand, Malaysia... là các thành viên CPTPP.

Đồng thời, xúc tiến chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp hay các cơ quan xúc tiến thương mại không chỉ tìm các đối tác mua hàng, mà còn tìm các đối tác có thể cung cấp nguyên phụ liệu.

Ông Khanh nhấn mạnh: “Muốn xây dựng một chuỗi cung ứng bền vững có khả năng chống chịu thì “Made in CPTPP” phải trở thành một chiến lược. Thay vì chỉ xuất khẩu, chúng ta tìm cách nhập khẩu từ họ. Nhập khẩu để tạo dựng một chuỗi cung ứng tốt hơn và quan trọng có khả năng chống chịu cao hơn”.

Nguồn: Vũ Khuê, VnEconomy