Các câu hỏi liên quan đế Cam kết của Việt Nam trong WTO về nhóm Rau quả

21/04/2010    185

1. Năng lực cạnh tranh của ngành rau quả Việt Nam như thế nào?

Với khí hậu thời tiết đa dạng, Việt nam có thể sản xuất nhiều loại rau quả từ nhiệt đới đến ôn đới phục vụ nhu cầu tiêu thụ.

Tình hình của các ngành sản xuất rau, quả của Việt Nam trong năm 2006 (năm trước khi Việt nam gia nhập WTO) và năm 2007 (năm đầu tiên Việt Nam là thành viên WTO) được thể hiện trong các Bảng dưới đây.

Bảng 1 – Tình hình ngành sản xuất rau

Các yếu tố Năm 2006 Năm 2007 Ghi chú
Diện tích gieo trồng 676.000 ha 705.000 ha Năm 2007 tăng 5,8 % so với năm 2006
Sản lượng (các loại) 10,3 triệu tấn 11 triệu tấn Năm 2007 tăng 8,3% so với năm 2006
Các nhóm chủ yếu Rau ăn lá (cải bắp, rau muống, rau ngót, rau dền...); Củ, quả, đậu rau (cà rốt, củ cải, khoai tây, su su, mướp đắng, dưa chuột...); Gia vị (hạt tiêu, ớt, hành tỏi...)

Bảng 2 – Tình hình ngành sản xuất quả

Các yếu tố Năm 2006 Năm 2007 Ghi chú
Diện tích gieo trồng 774.000 ha 775.000 ha

Tăng bình quân 36.350 ha/năm (2001-2005)

Năm 2007 tăng 0,5% so với năm 2006.

Sản lượng (các loại) 6,5 triệu tấn 6,5 triệu tấn  
Các nhóm chủ yếu

Có 6 nhóm cây ăn quả chính là: (1) chuối, (2) xoài, (3) nhãn, (4) vải-chôm chôm, (5) quả có múi (bưởi, cam, quýt, chanh) và (6) dứa.

Diện tích của 6 nhóm cây ăn quả thường xuyên chiếm từ 72-75% tổng diện tích cây ăn trái trong 5 năm qua.

2. Năng lực cạnh tranh của ngành rau quả?

Hiện tại, khoảng 80 - 85% sản lượng rau quả sản xuất ra để phục vụ cho tiêu dùng trong nước, 15 – 20 % dành cho xuất khẩu. Tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo từng loại rau quả (ví dụ, một số sản phẩm có tỷ lệ xuất khẩu cao hơn như ngô ngọt, dưa chuột bao tử, nấm, dứa, vải; ngược lại, nhiều sản phẩm tiêu dùng trong nước gần như 100% như các loại rau ăn lá, cam, quýt, ổi…).

Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tăng giảm thất thường (mặc dù vài năm gần đây có xu hướng tăng đều nhưng với tốc độ chậm hơn tốc độ phát triển sản xuất). Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành hàng rau quả Việt nam nhìn chung có nhiều hạn chế do quy mô sản xuất manh mún, giá thành sản xuất cao, chất lượng không đồng đều, vệ sinh an toàn thực phẩm và yếu kém trong công nghiệp bảo quản, chế biến.

Vì vậy, rau quả được bảo hộ ở mức khá cao, với mức thuế nhập khẩu từ 30-40% đối với rau quả tươi, 50% đối với rau quả chế biến.

Hộp 1 - Tiềm năng cạnh tranh về một số loại rau quả

Đối với cây ăn quả: Việt Nam có tiềm năng để phát triển những loại quả nhiệt đới như chuối, xoài, nhãn, vải, chôm chôm, bưởi. Những loại quả khả năng cạnh tranh kém là nho, cam, quýt. Những loại quả ít có điều kiện tự nhiên để phát triển là táo, lê, đào;

Đối với rau: Việt Nam có lợi thế để phát triển rau tươi (kể cả nấm), nhưng khả năng cạnh tranh của rau chế biến còn thấp do công nghệ chế biến chậm đổi mới, khả năng cung cấp nguyên liệu thấp nên chất lượng còn nhiều hạn chế, giá thành sản xuất cao.

3. Việt Nam cam kết mở cửa thị trường rau quả cho hàng hóa nước ngoài ở mức nào?

Hiện tại, liên quan đến thị trường rau quả, Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại khác nhau, quan trọng nhất là:

Cam kết gia nhập WTO; và

Cam kết trong khuôn khổ khu vực ASEAN và các đối tác của ASEAN.

Hộp 2 – Xu hướng cam kết WTO đối với rau quả

Mức độ cam kết mở cửa đối với các mặt hàng này chủ yếu thể hiện ở cam kết giảm thuế nhập khẩu (để hàng hóa nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn

-          Mức cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các loại quả cao hơn so với rau.

-          Quả ôn đới có mức cắt giảm thuế nhập khẩu cao hơn quả nhiệt đới.

-          Rau quả chế biến có mức cắt giảm nhiều hơn so rau quả tươi.

-          Những loại rau quả nước ta có khả năng sản xuất và xuất khẩu có mức cắt giảm thuế nhập khẩu ít hơn so với những loại rau quả mà nước ta ít có lợi thế sản xuất và phải nhập khẩu nhiều, đặc biệt là các loại rau, quả ôn đới (táo, lê, đào, nho…).

Cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam trong khuôn khổ WTO đối với các sản phẩm rau quả được thể hiện trong Bảng dưới đây.

 Giải thích Bảng:

- Thuế suất ban đầu: là mức thuế áp dụng năm đầu tiên khi gia nhập WTO;

- Thuế suất cuối cùng: là mức thuế phải giảm xuống sau một số năm nhất định;

- Năm thực hiện: là số năm thực hiện giảm thuế từ mức ban đầu xuống mức cuối cùng;

- AFTA: Cam kết trong khuôn khổ “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN” (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng nông sản từ các nước ASEAN vào Việt Nam);

- AC-FTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vực mậu dịch tự do  ASEAN - Trung Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Trung Quốc vào Việt Nam);

- AK-FTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vực mậu dịch tự do  ASEAN - Hàn Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Hàn Quốc vào Việt Nam).

Bảng 3 – Biểu cam kết về thuế nhập khẩu về một số loại rau quả

Mã số HS Sản phẩm TS hiện hành (2007) Cam kết WTO AFTA AC-FTA AK-FTA
TS ban đầu TS cuối cùng Năm TH 2006 2010 2008 2010 2008 2010
  I. Rau quả tươi, sơ chế                    
07 Rau quả các loại                    
  Các loại để làm giống (hạt, quả, củ, thân, cành...) 0 0     0 0 0 0 0 0
0701-0709 Các loại rau tươi và ướp lạnh                    
  Rau tươi ăn lá (cải bắp, súp lơ, bông cải...) 30 20     0 0 0 0 15 15
  Rau tươi ăn quả (cà chua, dưa chuột, đậu rau...) 30 20     0 0 0 0 15 15
  Rau tươi ăn củ (khoai tây, cà rốt, củ cải...) 30 20     0 0 0 0 15 15
  Các loại gia vị (hành, tỏi...) 30       0 0 0 0 15 15
  Nấm tươi 30 30     0 0 0 0 15 15
  Đậu hạt 30 25 20 2012 0 0 0 0 25 20
0710-0711 Rau quả các loại đã sơ chế (hấp chín, bảo quản tạm thời qua ngâm dấm, ngâm muối...) 30 15   2010 0 0 0 0 15 10
0712-0713 Các loại rau, đậu khô 30 25-30 20-25 2010 0-5 0-5 0 0 25 20
08 Quả các loại                    
0803 Chuối 40 40 25 2012 5 5 0 0 35 25
0804 Chà là, sung, dứa, bơ, ổi, xoài, măng cụt 40 30-40 15-20-25-30 2010-2012 5 5 0 0 35 25
0805 Quả có múi (cam, quýt, chanh, bưởi) 30 40 20-30 2010-2012 0 0 0 0

35

25
0806 Nho 25 25 10-13 2012 5 5 0 0 20 20
0807 Các loại dưa, đu đủ 40 40 30 2010 5 5 0 0 35 25
0808-0809 Táo, lê, đào 20-25 24-25 10 2012 5 5 0 0 20 20
0811-0812 Các loại quả được bảo quản tạm thời bằng hấp chín, ngâm muối, đường...) 40 40 30 2010 5 5 0 0 35 25
0813 Các loại quả khô 40 40 30 2010 5 5 0 0 35 25
  Các loại hoa                    
0603-0604 Các loại hoa tươi, khô, cành, lá dùng để trang trí 30 30 20 2010 5 5 0 0 35 25
20 II-Rau quả chế biến                    
2001-2005 Rau chế biến (ngâm dấm, đông lạnh...) 40 40 18-35 2010-2012 5 5 30 30 35 25
2006 Rau, quả bảo quản bằng đường 40 40 35 2010 5 5 30 30 35 25
2007 Mứt, nước quả cô đặc 40 40 35 2010 5 5 30 30 35 25
2008 Rau, quả đã chế biến, bảo quản bằng cách khác 40 40 18-35 2010-2012 5 5 30 30 35 25
2009 Nước ép quả 35 35-40 20-35 2010-2012 5 5 30 30 35 25

4. Việc Việt Nam gia nhập WTO có tác động đến ngành hàng, doanh nghiệp và nông dân trồng rau quả như thế nào?

Mức độ mở cửa thị trường rau quả của Việt Nam trong khuôn khổ cam kết WTO thấp hơn nhiều so với mức độ mở cửa trong các cam kết tự do hóa thương mại khu vực (ASEAN, Trung Quốc…). Trong khi đó việc nhập khẩu rau quả lại chủ yếu là từ những nước này. Vì vậy việc xem xét tác động của mở cửa đối với ngành rau quả Việt Nam chủ yếu là dựa trên tác động của cam kết khu vực chứ không phải cam kết WTO.

Hộp 3 - Tóm tắt cam kết khu vực về mở cửa thị trường rau quả

Trong AFTA Việt Nam cam kết áp dụng mức thuế nhập khẩu của tất cả các loại rau quả tươi, chế biến 0-5% từ 1/1/2006;

Trong ACFTA Việt Nam cam kết áp dụng mức thuế nhập khẩu rau quả tươi 0% vào 1/1/2008, rau quả chế biến 30% vào năm 2008 và sẽ giảm xuống còn 5% vào năm 2013 và 0% vào năm 2015

Trung Quốc và 6 nước ASEAN cũ (Bruney, Indonesia, Malaysia, Philipine, Singapore và Thái lan) đã giảm thuế xuống 0% vào 1/1/2006 đối với rau quả tươi và 0% vào 1/1/ 2010 đối với rau quả chế biến.

Về cơ hội

Theo AFTA và ACFTA, Trung Quốc và 6 nước ASEAN cũ sẽ mở cửa hoàn toàn đối với rau quả tươi vào 1/1/2006 và đối với rau quả chế biến vào 1/1/2010. Với lợi thế gần cận và có truyền thống buôn bán (nhất là rau quả) với Trung quốc, đây là cơ hội cho cho những loại rau quả mà nước ta có lợi thế xuất khẩu sang thị trường này.

Về thách thức

Cơ cấu rau quả của các nước ASEAN gần giống nhau, cùng cạnh tranh vào thị trường Trung Quốc, trong khi đó, một số nước có trình độ và khả năng sản xuất rau quả tốt hơn nước ta (Thái Lan, Philipin…). Đây là thách thức không nhỏ cho ngành rau quả của Việt Nam trong xuất khẩu.

Trung Quốc vừa là nước nhập khẩu vừa là nước xuất khẩu rau quả thuộc loại hàng đầu thế giới. Trung Quốc nhập khẩu rau quả tươi, xuất khẩu cả tươi và chế biến. Với tiềm năng đa dạng về chủng loại rau quả, Trung quốc xuất khẩu khá nhiều các loại rau quả vào nước ta, đặc biệt là các loại quả ôn đới như táo, lê, đào, nho, quả có múi như cam, quýt, các loại quả đã chế biến (mứt quả). Từ khi thực hiện AC-FTA (2004) đến nay, Việt Nam đã chuyển từ vị trí xuất siêu sang vị trí nhập siêu rau quả từ Trung Quốc.

5. Doanh nghiệp rau quả cần làm gì để hội nhập thành công?

Để cạnh tranh trong môi trường hội nhập (WTO và đặc biệt là các cam kết khu vực với các nước ASEAN và Trung Quốc), doanh nghiệp và nông dân sản xuất rau quả cần lưu ý nhiều vấn đề, trong đó đặc biệt là:

Đối với ngành: Tổ chức lại khâu sản xuất, bảo quản, chế biến và gắn kết được giữa nông dân sản xuất nguyên liệu, nhà máy chế biến và tiêu thụ sản phẩm hoặc xuất khẩu nhằm khắc phục tình trạng manh mún, thiếu bền vững như hiện nay, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của ngành;

Đối với thị trường trong nước: Do trên 80% sản lượng rau quả sản xuất ra để tiêu dùng trong nước nên thị trường trong nước là quan trọng nhất. Vì vậy, trước hết, cần thực hiện nghiêm chỉnh quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm lấy lại niềm tin của người tiêu dùng trong nước nếu rau quả Việt Nam không muốn mất chỗ đứng ở ngay thị trường trong nước, một thị trường rộng lớn với 85 triệu dân mà hàng rau quả nhiều nước đang mong muốn tiếp cận;

Đối với thị trường xuất khẩu: Tập trung đẩy mạnh sản xuất những loại rau quả có khả năng cạnh tranh cao để tranh thủ thị trường nước ngoài như nấm, ngô bao tử, gia vị, bưởi, dứa, nhãn, vải….; Dành thời gian và nguồn lực thích đáng cho việc nghiên cứu và tiếp cận thị trường.

Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI