Tin tức

RCEP – nhận diện lợi thế để đầu tư hiệu quả

07/03/2022    154

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) có hiệu lực từ ngày 1/1/2022, hình thành khối kinh tế lớn nhất thế giới. Theo nhiều chuyên gia, để đầu tư hiệu quả vào thị trường này, cần nhận diện lợi thế của từng quốc gia tham gia RCEP.

Lợi thế quy mô kinh tế

Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất tham gia vào RCEP. Với 14,7 nghìn tỷ USD, nền kinh tế này chiếm hơn một nửa GDP tổng hợp của các nước thành viên RCEP vào năm 2020. Gần đây, GDP của Trung Quốc tăng 3,1% vào năm 2020 trong khi nhiều nền kinh tế lớn khác thu hẹp do tác động kinh tế của Covid-19. Theo số liệu do Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc công bố, GDP nước này tăng 8,1% vào năm 2021.

Nhật Bản là nền kinh tế RCEP lớn thứ hai, chiếm khoảng 1/5 GDP tổng thể của RCEP vào năm 2020. Nhật Bản nổi tiếng là một trong những quốc gia sáng tạo nhất thế giới và chi tiêu nhiều cho R&D. Khu vực Tokyo-Yokohama được xếp hạng là cụm khoa học và công nghệ hàng đầu trong Chỉ số đổi mới toàn cầu năm 2021. Những năm gần đây, Nhật Bản hứng chịu bất ổn về kinh tế. GDP giảm 16,9% trong năm 2012. Sau khi tăng nhẹ vào năm 2016, GDP giảm 1,4% trong năm 2017. Sau hai năm tăng trưởng kinh tế 2018 và 2019, GDP lại giảm 1,8% vào năm 2020 do Covid- 19.

Hàn Quốc là quốc gia RCEP lớn thứ ba tính theo GDP, được coi là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Theo Ngân hàng Thế giới, tăng trưởng GDP thực tế của quốc gia này đạt trung bình 5,5% hàng năm từ năm 1988 đến năm 2019.

Singapore có GDP bình quân đầu người cao nhất so với tất cả các quốc gia trong RCEP (59.798 USD vào năm 2020). Nước này được biết đến là một trong những nền kinh tế tiến bộ và thân thiện với doanh nghiệp nhất thế giới do các chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý và sự ổn định chính trị.

Australia ghi nhận mức GDP bình quân đầu người cao thứ hai trong số các thành viên RCEP vào năm 2020 với 51.693 USD. Nền kinh tế linh hoạt của Australia và sự gần gũi với thị trường châu Á khiến nước này trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Theo số liệu từ OECD, quá trình phục hồi của Australia sau Covid -19 đang diễn ra tốt đẹp.

New Zealand có mức tăng dân số cao nhất trong tất cả các nước được phân tích là 2,1% vào năm 2020. Điều này có thể là do gia tăng tự nhiên cũng như di cư quốc tế. Nền kinh tế của đất nước nhanh chóng phục hồi từ Covid-19 nhờ các biện pháp khóa cửa nghiêm ngặt và bảo vệ việc làm và thu nhập. GDP của nước này dự kiến tăng 3,9% vào năm 2022 và 2,5% vào năm 2023. Đáng chú ý, New Zealand đứng đầu Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2021 của Tổ chức Minh bạch quốc tế trong năm thứ ba liên tiếp. Nước này đạt 88/100 điểm, cùng với Đan Mạch và Phần Lan. New Zealand là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và mang lại cho các nhà đầu tư sự ổn định chính trị cũng như môi trường kinh doanh minh bạch và cởi mở. Ngoài ra, trung bình chỉ mất nửa ngày để bắt đầu kinh doanh ở New Zealand - thời gian ngắn nhất so với tất cả các thành viên RCEP.

Trung Quốc, Australia và Singapore dẫn đầu về FDI

Trung Quốc là nước nhận FDI lớn nhất trong số tất cả các nước được phân tích trong RCEP với 412 dự án FDI vào năm 2020, chiếm 22,3% vốn FDI RCEP trong năm đó. Con số này chưa bằng một nửa số dự án FDI mà Trung Quốc nhận được trong năm 2019 (835). Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, công nghệ thông tin, bất động sản và dịch vụ kinh doanh. Từ năm 2003 đến 2015, Trung Quốc liên tục nhận được hơn 1.000 dự án FDI mỗi năm. Tuy nhiên, vào năm 2014, số lượng dự án FDI bắt đầu giảm, giảm so với năm trước cho đến năm 2017. Số lượng dự án tăng vào năm 2018, trước khi giảm vào năm 2019 và giảm một nửa vào năm 2020 do Covid-19. Các chuyên gia cảnh báo rằng mức vốn FDI cao mà Trung Quốc nhận được trước đây không còn bền vững do các công ty trong nước trở nên nổi bật hơn và cạnh tranh gia tăng. Ngoài ra, căng thẳng gia tăng với Mỹ cũng có thể ảnh hưởng đến sức hấp dẫn đầu tư của Trung Quốc.

Australia đã thu hút 321 dự án FDI vào năm 2020, con số cao thứ hai trong số tất cả các quốc gia được phân tích. Số dự án của quốc gia này đã tăng 7,6% từ năm 2016 đến 2018 trước khi giảm 1,1% vào năm 2019 và giảm 25,9% vào năm 2020. Theo số liệu từ Austrade - cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia của Australia, cứ 10 việc làm của Australia thì 1 được hỗ trợ bởi FDI.

Singapore nhận được số lượng dự án FDI lớn thứ ba trong số các thành viên RCEP. Đến nay, nước này cũng là điểm đến đầu tư FDI hàng đầu trên đầu người với 5,3 dự án/100.000 dân. Nước này vượt đáng kể so với quốc gia gần nhất tiếp theo, New Zealand, với 1,3 dự án/100.000 dân. Các ngành công nghiệp trọng điểm để đầu tư bao gồm hàng không vũ trụ, điện tử và dược phẩm. Singapore cũng là một địa điểm đặt trụ sở chính trong khu vực cho các công ty đa quốc gia (MNC). Theo dữ liệu từ Ủy ban Phát triển kinh tế của Singapore, 46% các trụ sở chính ở khu vực châu Á có trụ sở tại đây.

Tại Indonesia, bất chấp tác động của Covid-19, giá trị dự án FDI tại nước này đã tăng từ 12 tỷ USD năm 2019 lên 20,2 tỷ USD vào năm 2020. Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đang thắt chặt các quy định về FDI, thì Indonesia là một trong số ít quốc gia đang nới lỏng các cơ chế sàng lọc. Tháng 7/2021, Chính phủ Indonesia sửa đổi danh sách các lĩnh vực bị cấm FDI bằng cách mở cửa ngành công nghiệp viễn thông, xây dựng, phân phối và khoan cho nhà đầu tư nước ngoài.

Tháng 1/2022, Malaysia được vinh danh là quốc gia tốt nhất ở Đông Nam Á mới nổi về mức độ thu hút FDI trong Chỉ số cơ hội toàn cầu của Viện Milken. Nước này được ghi nhận vì nỗ lực giảm bớt các hạn chế FDI và đưa ra các chính sách để tạo thuận lợi cho thương mại. Malaysia đã thu hút 100 dự án FDI vào năm 2020 trên các lĩnh vực bao gồm du lịch, hậu cần và điện tử. Còn Brunei có mức tăng tỷ lệ phần trăm lớn nhất về giá trị dự án FDI vào năm 2020. Với Campuchia, giá trị dự án FDI chiếm 6,4% tổng GDP của cả nước vào năm 2020. Các quốc gia đầu tư hàng đầu của Campuchia bao gồm Singapore, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Anh, Canada và Mỹ. Các lĩnh vực FDI chính bao gồm tài chính, sản xuất và bất động sản đến nông nghiệp và xây dựng...

Lào và New Zealand - những nền kinh tế xanh nhất của RCEP

Trung Quốc là nước gây ô nhiễm lớn, chiếm gần 75% lượng khí thải carbon của tất cả các nước được phân tích. Theo nghiên cứu của Rhodium Group, nước này thải ra nhiều khí nhà kính hơn toàn bộ thế giới phát triển cộng lại, chiếm 27% lượng khí nhà kính toàn cầu vào năm 2019. Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết rằng Trung Quốc sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2060 với đỉnh điểm không muộn hơn năm 2030.

Các nguồn năng lượng tái tạo chiếm gần 97% tổng năng lượng của Lào vào năm 2018. Nguồn năng lượng lớn nhất của quốc gia này là thủy điện, sau đó là năng lượng sinh học. Năm 2011, Lào đưa ra Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo, nhằm phát triển các nguồn năng lượng mới.

Bên cạnh đó, hơn 3/4 lượng điện được tạo ra ở New Zealand trong năm 2018 được lấy từ các nguồn năng lượng tái tạo, chủ yếu là thủy điện. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ tạo ra 90% điện năng từ các nguồn tái tạo.

Singapore cũng phụ thuộc rất nhiều vào nhiên liệu hóa thạch, chiếm 98,6% tổng năng lượng của nước này vào năm 2018. Chính quyền đã phải đối mặt với một số khó khăn khi cố gắng chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Các nhà phát triển nhận thấy rằng không có đủ không gian cho các nhà máy năng lượng mặt trời lớn, không có sông lớn để lắp đặt các công trình thủy điện và tốc độ gió quá thấp để cung cấp năng lượng cho các tuabin. Do đó, Singapore đã chuyển sang sử dụng các trang trại năng lượng mặt trời nổi và các tấm pin thẳng đứng để tăng nguồn cung cấp năng lượng sạch.

Nguồn: Báo Công Thương