Các câu hỏi liên quan đến Cam kết WTO của Việt Nam về nhóm Cây công nghiệp

04/09/2010    200
1. Năng lực cạnh tranh của ngành hàng cây công nghiệp?
Là nhóm hàng quan trọng mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể, nhóm cây công nghiệp có vị trí ngày càng gia tăng trong ngành nông nghiệp Việt Nam.

Cây công nghiệp có 2 nhóm:

- Cây công nghiệp ngắn ngày: Mía đường, lạc, đậu tương và bông.

- Cây công nghiệp dài ngày: Cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu….

Về tổng thể, nhóm cây công nghiệp ngắn ngày có khả năng cạnh tranh thấp do điều kiện tự nhiên ít phù hợp hoặc chỉ phù hợp ở một số tiểu vùng nhất định, khó có khả năng mở rộng. Nhóm cây công nghiệp dài ngày có khả năng cạnh tranh cao hơn do điều kiện tự nhiên phù hợp, khả năng thâm canh của nông dân tốt cho năng suất cao, giá thành sản xuất thấp.

Tình hình và quy mô sản xuất của các ngành hàng này được thể hiện trong các Hộp – Bảng dưới đây.

Đối với cây công nghiệp ngắn ngày

Hộp 1 - Tình hình ngành sản xuất mía đường

  • Diện tích trồng mía: 250.000 – 300.000 ha (biên độ dao động rất mạnh)

  • Sản lượng đường: 800.000 – 1.300.000 tấn đường/năm

  • Khả năng cạnh tranh: Chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước (một số năm phải nhập khẩu 50-100 ngàn tấn đường/năm); khả năng cạnh tranh thấp do năng suất mía thấp, tỷ lệ sử dụng công suất của các nhà máy đường không cao; cả nước hiện có 38 nhà máy đường đang hoạt động;

  • Chính sách của Nhà nước: Chính sách ưu đãi và bảo hộ cao (do sản xuất mía đường tập trung chủ yếu ở các tỉnh có điều kiện khó khăn như miền Trung, ĐBSCL, trung du miền núi phía Bắc) - trước đây, ngoài thuế nhập khẩu MFN đối với đường thô là 30%, đối với đường tinh luyện là 40 % còn áp dụng giấy phép nhập khẩu đường của Bộ Thương mại; từ đầu năm 2007 khi trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã bỏ giấy phép nhập khẩu và chuyển sang hình thức bảo hộ khác là hạn ngạch thuế quan (theo đúng cam kết).

 

Bảng 1 – Tình hình ngành Lạc
 

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

249.000 ha

255.000 ha

Lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du phía Bắc, miền Trung và Đông Nam Bộ (dao động lớn về diện tích trồng)

Sản lượng lạc vỏ

465.000 tấn

505.000 tấn

Năm 2007 tăng 9,2% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Trước đây, lạc là một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam; nay diện tích lạc và tỷ lệ dành cho xuất khẩu trong xu thế giảm dần (nhường chỗ cho những loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn); sản xuất lạc phần lớn để tiêu dùng trong nước, xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 15-20% sản lượng. Năm 2007, xuất khẩu lạc đạt 36 ngàn tấn lạc nhân, kim ngạch 14 triệu USD.


Bảng 2 – Tình hình ngành Đậu tương

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

186.000 ha

190.000 ha

Năm 2007 tăng 2,4% so với năm 2006

Sản lượng

258.000 tấn

275.000 tấn

Năm 2007 tăng 6,7% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Dù có tiến bộ trong năng suất, sản xuất đậu tương mới chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước (đậu phụ, bột đậu tương), dành một phần rất nhỏ để chế biến dầu ăn, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến dầu TV và chế biến thức ăn công nghiệp (mỗi năm Việt Nam phải nhập 500.000 tấn khô dầu các loại cho thức ăn công nghiệp).

Chính sách đối với ngành

Để tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật và chăn nuôi, Việt Nam áp dụng thuế nhập khẩu MFN thấp (đối với đậu tương là 5% và khô dầu là 0%)

Bảng 3 - Tình hình ngành Bông

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

20.500 ha

12.400 ha

Năm 2007 giảm 41% so với năm 2006

Sản lượng bông hạt

26.000 tấn (tương đương khoảng 10.500 tấn bông xơ

16.000 tấn (tương đương 8.000 tấn bông xơ)

Năm 2007 giảm gần 44% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Năng suất bông thấp so với bình quân thế giới; sản xuất bông mới chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu của công nghiệp dệt may trong nước, để tạo điều kiện cho ngành dệt may phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước đã áp dụng thuế nhập khẩu bông xơ là 0%.

Đối với Cây công nghiệp dài ngày:

Bảng 4 – Tình hình sản xuất cà phê

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

488.600 ha

506.000 ha

Năm 2007 tăng 1,9% so với năm 2006

Sản lượng cà phê nhân

853.500 tấn

961.000 tấn

Năm 2007 tăng 12,7% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Cây cà phê được phát triển nhanh và trở thành cây trồng quan trọng của ngành nông nghiệp từ gần 30 năm trở lại đây; Cà phê được xếp trong nhóm cây trồng có khả năng cạnh tranh cao nhờ điều kiện tự nhiên phù hợp, khả năng thâm canh cho năng suất cao; 95% sản lượng cà phê dành cho xuất khẩu, tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 5%; Giá cà phê trong nước biến động theo sát thị trường cà phê thế giới ; Năm 2007, xuất khẩu cà phê đạt 1,17 triệu tấn, kim ngạch 1,8 tỷ USD, tăng gần 20 % về lượng và 49 % về giá trị so với năm 2006.

Bảng 5 – Tình hình sản xuất cao su

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

490.000 ha

550.000 ha

Trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Đông nam bộ và Tây Nguyên

Sản lượng cao su mủ khô

470.000 tấn

602.000 tấn

Năm 2007 tăng 8,3% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Cao su được đánh giá là loại cây đem lại hiệu quả kinh tế (sử dụng toàn diện từ mủ đến gỗ); gần đây, xu hướng sử dụng cao su thiên nhiên tăng cao, giá cao su vì thế tăng, sản xuất và xuất khẩu cao su đã đem lại lợi nhuận lớn; là 1 trong 3 sản phẩm nông sản có kim ngạnh XK đạt trên 1 tỷ USD (gạo, cà phê và cao su) - khoảng 85% sản lượng cao su dành cho xuất khẩu, 15% tiêu dùng trong nước. Năm 2007, xuất khẩu cao su đạt 699 ngàn tấn, kim ngạch 1,36 tỷ USD, giảm 1,2% về lượng, nhưng tăng 5,7% về giá trị so với năm 2006.

 

Bảng 6 – Tình hình sản xuất Điều

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

362.000 ha

437.000 ha

Trồng tập trung ở các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Sản lượng hạt điều thô

325.400 tấn

302.000 tấn

Năm 2007 giảm 7% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Việt Nam là nước xuất khẩu điều hàng đầu thế giới (nhờ những tiến bộ kỹ thuật trong chế biến và về giống điều mới cho năng suất cao); ngoài nguyên liệu trong nước, còn nhập thêm hạt điều thô về chế biến xuất khẩu; trên 95% lượng điều dành cho xuất khẩu mỗi năm. Năm 2007, xuất khẩu điều đạt 150 ngàn tấn nhân điều, giá trị 641 triệu USD, tăng 18,2 % về lượng, 27,2% về giá trị xuất khẩu so với năm 2006

Bảng 7 – Tình hình sản xuất Chè

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

122.700 ha

125.700 ha

Trồng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Lâm Đồng

Sản lượng chè búp khô

130.000 tấn

130.000 tấn

 

Khả năng cạnh tranh

Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về sản xuất và thứ 5 về xuất khẩu chè; năm 2007 chè xuất khẩu đạt 113.000 tấn, kim ngạch 129 triệu USD, tăng 6,8% về lượng và 16,7% về giá trị so với năm 2006.

Bảng 8– Tình hình sản xuất Hồ tiêu

Các yếu tố

Năm 2006

Năm 2007

Ghi chú

Diện tích trồng

48.500 ha

47.900 ha

Năm 2007 giảm 1,2% so với năm 2006

Sản lượng hồ tiêu

82.600 tấn

90.000 tấn

Năm 2007 tăng 14,4% so với năm 2006

Khả năng cạnh tranh

Hồ tiêu là một trong những loại cây trồng được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao nhờ năng suất cao (trên 2 tấn/ha); Việt Nam là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Năm 2007, xuất khẩu hồ tiêu đạt 84.000 tấn, kim ngạch 278 triệu USD, giảm 27,6% về lượng nhưng tăng 45,9% về giá trị so với năm 2006.

 
2. Việt Nam đã cam kết về thuế nhập khẩu đối với mặt hàng cây công nghiệp?
Hiện tại, liên quan đến thị trường sản phẩm cây công nghiệp, Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại khác nhau, quan trọng nhất là:

Cam kết gia nhập WTO; và

Cam kết trong khuôn khổ khu vực ASEAN và các đối tác của ASEAN.

Mức độ cam kết mở cửa đối với các mặt hàng này chủ yếu thể hiện ở cam kết giảm thuế nhập khẩu (để hàng hóa nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn). Ngoài ra có thể có một số cam kết chung khác về việc hạn chế sử dụng các biện pháp phi thuế (ví dụ hạn ngạch nhập khẩu…).

Cam kết về thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm cây công nghiệp này được thể hiện trong Bảng dưới đây.

Giải thích Bảng:

- Thuế suất ban đầu: là mức thuế áp dụng năm đầu tiên khi gia nhập WTO

- Thuế suất cuối cùng: là mức thuế phải giảm xuống sau một số năm nhất định

- Năm thực hiện: là số năm thực hiện giảm thuế từ mức ban đầu xuống mức cuối cùng

- AFTA: Cam kết trong khuôn khổ “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN” (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng nông sản từ các nước ASEAN vào Việt Nam);

- ACFTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Trung Quốc vào Việt Nam);

- AKFTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vưự mậu dịch tự do ASEAN - Hàn Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Hàn Quốc vào Việt Nam).

Bảng 9 – Biểu cam kết thuế nhập khẩu về một số cây công nghiệp

Mã số HS

Sản phẩm

TS hiện hành

(2007)

Cam kết WTO

AFTA

ACFTA

AKFTA

TS ban đầu

TS cuối cùng

Năm thực hiện

2006

2010

2008

2010

2008

2010

 

1 - Mía đường

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1701

Đường thô

30

 

 

 

30

5

 

 

 

 

1701

Đường tinh luyện

40

 

 

 

40

5

 

 

 

 

 

2 - Lạc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1202

Lạc vỏ để làm giống

0

0

 

 

0

0

0

0

0

0

1202

Lạc vỏ khác

10

10

 

 

0

0

10

10

10

8

1202

Lạc nhân

10

10

 

 

0

0

10

10

10

8

 

3 - Đậu tương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1201

Đậu tương giống

0

0

 

 

0

0

0

0

0

0

1201

Đậu tương khác

5

5

 

 

0

0

10

10

5

5

52

4 - Bông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5201

Bông xơ chưa chải thô hoặc chưa trải kỹ

0

0

 

 

0

0

0

0

0

0

5202

Phế liệu bông

10

20

 

 

0

0

10

10

10

8

 

5 - Cà phê

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0901

Cà phê nhân

20

20

15

2010

5

5

15

15

15

15

0901

Cà phê đã rang, xay

40

40

30

2011

5

5

30

30

35

25

2101

Cà phê hoà tan

50

50

40

2010

5

5

30

30

35

25

0904

Hồ tiêu các loại (hạt, đã xay, nghiền…)

30

30

20

2010

0

0

20

20

25

20

0902

6- Chè các loại

40

40

 

 

5

5

30

30

35

25

 

7 - Hạt điều

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0801

Hạt điều chưa bóc vỏ

5

30

 

 

5

5

0

0

25

20

0801

Hạt điều đã bóc vỏ

40

40

25

2012

5

5

0

0

35

25

4001

8- Cao su tự nhiên

3

5

 

 

0

0

3

3

3

3

 
3. Cam kết trong WTO và các cam kết khu vực về cây công nghiệp có tác động như thế nào đến doanh nghiệp và nông dân?
Với mỗi loại cây công nghiệp Việt Nam có những lợi thế, yếu điểm khác nhau. Vì vậy tác động của các cam kết WTO và khu vực về thuế nhập khẩu các mặt hàng này cũng khác nhau đối với từng nhóm mặt hàng.

Tác động đối với nhóm cây công nghiệp ngắn ngày

Mía đường: Trong cam kết AFTA, đường được xếp trong danh mục hàng nông sản nhạy cảm sẽ giảm thuế nhập khẩu xuống 5% vào năm 2010. Trong AC-FTA, đường cũng nằm trong danh mục nhạy cảm, sẽ giảm thuế xuống 0% vào 2020. Trong WTO, Việt nam đã cam kết áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) với mức thuế trong hạn ngạch là 25% đối với đường thô, 40% đối với đường tinh luyện; thuế ngoài hạn ngạch là 85%. Như vậy, so với cam kết WTO, các cam kết khu vực đối với mặt hàng này có tác động mạnh hơn nhiều (với yêu cầu về giảm thuế lớn hơn). Trong khu vực, Thái Lan là nước xuất khẩu đường hàng đầu (thứ 3 - 4 thế giới) và với mức cam kết trong AFTA và AC-FTA như trên, đây sẽ là đối thủ cạnh tranh mạnh của Việt Nam.

Đậu tương, bông tiêu thụ: Sản phẩm của 2 ngành này 100% sử dụng để tiêu thụ trong nước. Trên thực tế, hai ngành này mới đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu trong nước. Trong khu vực, hầu hết các nước đều trong tình trạng thiếu, phải nhập khẩu từ bên ngoài. Do đó, các cam kết khu vực sẽ không tác động nhiều đến các ngành hàng này. Trong khi đó, cam kết WTO vẫn giữ nguyên như mức hiện hành. Vì vậy, quá trình hội nhập hầu như không tác động nhiều đến sản xuất các sản phẩm này. Tuy nhiên, khả năng phát triển mở rộng quy mô hơn cũng rất hạn chế.

Lạc: Khả năng tác động của các cam kết WTO đối với ngành này không nhiều (theo trên cả thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước). Về xuất khẩu, Việt Nam xuất khẩu lạc chủ yếu sang các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia… và các thị trường này đã giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5% từ lâu (2003), do đó sẽ không có thuận lợi gì mới trong xuất khẩu. Các nước trong khu vực như Myamar, Thái lan cũng có trình độ phát triển lạc như Việt Nam nên không có tác động lớn khi thực hiện cam kết khu vực. Cam kết WTO vẫn giữ nguyên mức thuế của lạc là 10%, do đó không tạo ra tác động nào mới.

Đối với nhóm cây công nghiệp dài ngày

Cam kết WTO và khu vực có tác động tốt về cơ hội mở cửa thị trường cho các nông sản thuộc nhóm này của nước ta bởi nhìn chung, các sản phẩm của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, khả năng xuất khẩu với khối lượng lớn và các cam kết này mang đến cơ hội để hàng Việt Nam được hưởng thuế suất MFN và thuế theo cam kết khu vực ở mức thấp, ổn định. Những hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thuộc nhóm này chủ yếu để bổ sung nguồn hàng xuất khẩu (dưới hình thức nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu). Do vậy, cam kết WTO và tự do hoá thương mại khu vực ít có khả năng tác động xấu đến các ngành hàng này.

4. Doanh nghiệp có thể tận dụng hay đối phó với các vấn đề từ cam kết WTO và cam kết khu vực trong lĩnh vực này như thế nào?
Đối với nhóm cây công nghiệp ngắn ngày

Một lợi thế của nhóm này là nhu cầu thị trường trong nước đối với hầu hết các sản phẩm trong nhóm này, đặc biệt là đậu tương, bông đang tăng lên (thị trường lớn với 85 triệu dân; xuất khẩu sản phẩm Dệt-May đang rất mạnh mẽ…). Để tận dụng cơ hội này và phát triển một cách bền vững nhóm sản phẩm này, các doanh nghiệp cần lưu ý một số biện pháp sau:

Đặc biệt chú trọng nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm (thông qua việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, biện pháp thâm canh, thu hoạch và bảo quản;

Đối với những vùng mới phát triển: ngoài việc nghiên cứu khả năng phù hợp về điều kiện tự nhiên, cần nghiên cứu kỹ về giá thành sản xuất (so sánh giá sản xuất trong nước với giá thế giới trong một chu kỳ dài, nếu giá thành sản xuất của ta thấp hơn giá bình quân thế giới mới đầu tư phát triển, mở rộng diện tích trồng…);

Đối với nhóm cây công nghiệp dài ngày

Việt Nam hiện đã có lợi thế về sản xuất trong nước đối với nhóm sản phẩm này. Tuy nhiên, để tiếp tục sức cạnh tranh này, doanh nghiệp và nông dân cần đặc biệt chú ý:

Các vấn đề về chất lượng, độ đồng đều về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (sản phẩm của Việt Nam thường phải chịu giá thấp do những vấn đề này);

Loại sản phẩm xuất khẩu: Cần chuyển dần từ xuất khẩu sản phẩm thô sang sản phẩm chế biến để nâng giá trị xuất khẩu;

Thương hiệu: Cần chú ý đầu tư xây dựng và quảng bá thương hiệu cho sản phẩm.

Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI