Làm gì để đặc sản vùng cao vươn ra thế giới
16/09/2026 20Đặc sản vùng cao có lợi thế về nguyên liệu, chất lượng và bản sắc, trong khi các thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc còn nhiều dư địa. Tuy nhiên, để bước qua biên giới, những giá trị như “tự nhiên”, “truyền thống”, “bản địa” phải được chuyển hóa thành chất lượng có thể kiểm nghiệm, tiêu chuẩn có thể chứng minh và sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Lợi thế bản địa chưa đủ để xuất khẩu
Chia sẻ tại tọa đàm “Đưa đặc sản vùng cao vươn ra thế giới - Từ lợi thế bản địa đến thương hiệu quốc tế” do Tạp chí Công thương tổ chức ngày 14/9/2026, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều lợi thế nhờ sự đa dạng, điều kiện tự nhiên đặc thù, tính xanh, tự nhiên, giá trị dinh dưỡng, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa.
Đó đều là những giá trị đang được người tiêu dùng quốc tế quan tâm. Tuy nhiên, theo ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, một nghịch lý vẫn tồn tại: doanh nghiệp có thể đã sẵn sàng về sản phẩm, nhưng chưa thực sự sẵn sàng về năng lực xuất khẩu.
Câu chuyện của Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan là một minh chứng. Từ một sản vật vùng cao, hợp tác xã đã xây dựng vùng nguyên liệu 70 ha, liên kết với khoảng 700 hộ dân, đầu tư nhà xưởng, máy móc và kiểm soát quy trình từ củ dong riềng đến tinh bột, tráng miến, sấy và đóng gói. Lô hàng đầu tiên 5,3 tấn được đưa sang Cộng hòa Séc, sau đó sản phẩm tiếp tục đến Mỹ, Australia và Hàn Quốc, với tổng lượng xuất khẩu hơn 40 tấn.
Vậy nhưng, để một sản phẩm từ vùng cao đi được hàng nghìn cây số, câu chuyện không dừng ở chất lượng truyền thống. Theo bà Trần Minh Anh, đại diện Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan, để hoàn tất một lô hàng xuất khẩu, hợp tác xã phải mất hơn một năm cho các công việc từ gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng đến hoàn thiện bao bì, nhãn mác và các thủ tục xuất nhập khẩu.
Bài học lớn nhất, theo đại diện hợp tác xã, là ngon chưa đủ; chất lượng phải được biến thành một quy trình có thể kiểm soát, đo lường và chứng minh. Đây cũng là lý do không ít đặc sản vùng cao hiện vẫn chủ yếu tham gia chuỗi xuất khẩu với tư cách nguyên liệu, thay vì đi thẳng ra nước ngoài bằng thương hiệu của chính mình.
Tại Gia Lai, cà phê, hồ tiêu, mắc ca, hạt điều và một số dược liệu có lợi thế lớn về vùng nguyên liệu. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Bích Thu, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và xúc tiến thương mại tỉnh Gia Lai cho biết, nhiều sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chủ yếu nằm ở khâu cung cấp nguyên liệu đầu vào cho chuỗi xuất khẩu.
Cà phê là một trong những trường hợp có bước tiến rõ hơn cả, nhất là cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản. Các thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn được đánh giá còn nhiều dư địa. Vấn đề vì thế không phải vùng cao thiếu hàng hóa, điểm yếu nằm ở năng lực biến sản vật thành hàng hóa quốc tế.
Tiêu chuẩn vẫn là cửa ải lớn
Khi bước qua biên giới, những lợi thế như “đặc sản”, “tự nhiên”, “truyền thống” hay “bản địa” phải được chuyển thành những tiêu chí cụ thể có thể kiểm nghiệm và chứng minh.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, rào cản đối với xuất khẩu đặc sản vùng cao tập trung ở 3 nhóm: chuẩn hóa chất lượng và kiểm định; quy trình sản xuất, chế biến, cấp mã; cùng mẫu mã, bao bì chưa phù hợp với yêu cầu của từng thị trường.
Quan trọng hơn, chi phí để đáp ứng những yêu cầu này có thể trở thành gánh nặng với các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ. Trà Shan tuyết là một ví dụ. Theo ông Tiến, khi xuất khẩu sang châu Âu, sản phẩm phải kiểm định 32 chỉ số; chi phí kiểm định một container được dẫn ở mức khoảng 7.000-8.000 USD.
Với một doanh nghiệp lớn, đó có thể là khoản chi phí cần thiết để mở cửa thị trường, song với một hợp tác xã chỉ sản xuất vài tấn hoặc vài container, đây lại là một bài toán kinh tế không đơn giản.
Bao bì cũng vậy. Một gói hàng phù hợp với người tiêu dùng trong nước chưa chắc phù hợp với người mua quốc tế. Những gói miến 1 kg hoặc 3 kg có thể không phù hợp với quy mô sử dụng của các hộ gia đình tại một số thị trường. Nhãn hàng phải đáp ứng yêu cầu về ngôn ngữ, quy cách, thông tin sản phẩm và tiêu chuẩn của hệ thống phân phối.
Nói cách khác, xuất khẩu không chỉ đòi hỏi sản phẩm đạt chất lượng, mà còn đòi hỏi doanh nghiệp hiểu thị trường muốn mua sản phẩm ấy dưới hình thức nào, ở mức giá nào và trong kênh phân phối nào. Đây là bước chuyển từ tư duy mình có gì thì bán cái đó sang thị trường cần gì thì tổ chức sản xuất cái đó.
Muốn đi xa, phải nối lại chuỗi giá trị
Một bài toán ít được chú ý khi đưa đặc sản vùng cao ra thế giới đó là quy mô thị trường phải phù hợp với quy mô sản xuất. Với những sản phẩm như miến dong Tài Hoan hay trà Shan tuyết, sản lượng hạn chế lại có thể trở thành lợi thế nếu biết khai thác sự khác biệt về vùng nguyên liệu, nghề truyền thống, tri thức cộng đồng, văn hóa và chất lượng.
Thay vì chạy theo số lượng, các sản phẩm này có thể hướng đến thị trường ngách, phân khúc cao cấp, quà tặng, thương mại điện tử xuyên biên giới hoặc gắn với du lịch trải nghiệm. Khi đó, thương hiệu không chỉ là tên gọi trên bao bì mà trở thành câu chuyện về vùng đất, người sản xuất và những giá trị văn hóa được gửi gắm trong sản phẩm.
Bà Trần Minh Anh, đại diện Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan cho biết, khi một người tiêu dùng châu Âu mua một gói miến, điều hợp tác xã mong muốn họ nhìn thấy không chỉ là thực phẩm, mà còn là vùng nguyên liệu, làng nghề, người nông dân vùng cao và nỗ lực giữ nghề, tạo sinh kế, nâng giá trị nông sản Việt Nam. Đó cũng là phần giá trị mà sản phẩm đại trà khó tạo ra.
Muốn những giá trị ấy đi xa, điểm mấu chốt không chỉ nằm ở một chứng nhận hay một hội chợ, mà ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Theo ông Tô Hoài Nam, liên kết cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường, đồng thời phân vai rõ giữa hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu, nhà phân phối và các đơn vị dịch vụ.
Điều này càng quan trọng với khu vực miền núi, nơi phần lớn chủ thể có quy mô nhỏ. Nếu mỗi hợp tác xã phải tự lo từ vùng nguyên liệu, kiểm nghiệm, chứng nhận, bao bì, logistics đến tìm kiếm khách hàng quốc tế, chi phí sẽ cao và rủi ro lớn. Vì vậy, hỗ trợ cần chuyển từ từng khâu riêng lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi, tập trung vào các điểm nghẽn như kiểm nghiệm, chứng nhận, sở hữu trí tuệ, logistics và hạ tầng dùng chung.
Định hướng này cũng được đặt ra trong Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030” (GoGlobal), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 626/QĐ-TTg ngày 6/4/2026, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Nguyễn Minh Tiến cũng cho rằng, xúc tiến xuất khẩu cần mở đồng thời nhiều hướng, từ hội chợ, triển lãm, diễn đàn quốc tế đến thương mại điện tử xuyên biên giới và xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch, trải nghiệm và khách quốc tế.
Theo ông, không phải đặc sản nào cũng đi cùng một con đường. Sản phẩm có quy mô lớn có thể vào hệ thống phân phối lớn; sản phẩm đặc sắc nhưng sản lượng hạn chế có thể chọn thị trường ngách, phân khúc cao cấp hoặc quà tặng. Điều quan trọng là chọn đúng thị trường, đúng cách tiếp cận và giữ được giá trị của sản phẩm khi đi xa hơn biên giới.
Nguồn: Thái Hằng, Tạp chí Kinh tế - Tài chính
- Khảo sát: Khó khăn của Doanh nghiệp trong đáp ứng các biện pháp vệ sinh dịch tễ - ATTP (SPS) của thị trường XK
- Mỹ-Trung duy trì 'khoảng lặng' thuế quan, tạo tín hiệu tích cực cho thương mại
- Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
- EU, Pháp nói gì về việc Mỹ xem xét cấm xuất khẩu dầu diesel?
- Doanh nghiệp Argentina quan tâm mở rộng thị trường tại Việt Nam
