Giải quyết tranh chấp số DS337

14/05/2013    448

EC - Biện pháp chống bán phá giá đối với cá hồi nuôi của Na-uy

Nguyên đơn:

Na-uy

Bị đơn:

EC

Các bên thứ ba:

Canada; Trung Quốc; Hồng Kông,; Nhật Bản; Hàn Quốc; Hoa Kỳ

Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn)

Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Điều 1, Phụ lục I, Phụ lục II, 3, 3.1, 3.2, 3.4, 3.5,3.6, 4.1, 5, 5.1, 5.2, 5.3, 5.4, 6.2, 6.4,6.5.1, 6.7, 6.8, 6.9, 6.10, 2, 9, 9.1, 9.2,9.3, 9.4, 12.2, 12.2.2, 2.1, 2.2, 18.1, 2.2.1,2.2.1.1, 2.2.2, 2.6

GATT 1994: Điều  VI, VI:1

Ngày nhận được yêu cầu tham vấn

17/03/2006

Ngày lưu hành Báo cáo của Ban Hội thẩm

16/11/2007

Bản tóm tắt dưới đây được cập nhật đến ngày 24 tháng 02 năm 2010

Tham vấn

Ngày 17/03/2006, Na-uy yêu cầu tham vấn với EC liên quan đến Quyết định của Hội đồng (EC) số 85/2006 ngày 17/01/2006 áp thuế chống bán phá giá chính thức và thu toàn bộ thuế chống bán phá giá tạm thời đối với cá hồi nuôi (farmed salmon) nhập khẩu từ Na-uy.

Na-uy cho rằng biện pháp trên vi phạm các nghĩa vụ của EC theo Điều 1, 2.1, 2.2, 2.2.1, 2.2.1.1, 2.2.2, 3.1, 3.2, 3.4, 3.5, 5.4, 6.2, 6.4, 6.5.1, 6.7, 6.8, 6.9, 6.10, 9.1, 9.2, 9.3, 9.4, 12.2, 12.2.2, 18.1 và Phụ lục I và II của Hiệp định ADA, Điều VI của GATT 1994.

Ngày 27/03/2006, Na-uy bổ sung yêu cầu tham vấn ban đầu.

Giai đoạn Hội thẩm

Tham vấn không thành công, do đó ngày 29/05/2006, Na-uy đã yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm. Tại cuộc họp ngày 09/06/2006, DSB trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên, Ban Hội thẩm đã được thành lập sau đó tại cuộc họp của DSB ngày 22/06/2006.

Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ yêu cầu tham gia vào vụ kiện với tư cách các bên thứ ba.

Ngày 27/07/2006, do hai bên không thể thống nhất được về thành phần của Ban Hội thẩm, Na-uy đã phải yêu cầu Tổng giám đốc WTO chỉ định thành viên cho Ban Hội thẩm. Ngày 02/08/2006, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác định.

Ngày 02/02/2007, Chủ tịch Ban Hội thẩm thông báo với DSB rằng họ không thể hoàn thành công việc trong vòng 6 tháng (kể từ ngày thành lập) theo như quy định do bản chất và phạm vị của vụ việc và thay đổi lịch trình sau khi tham vấn các bên. Ban Hội thẩm dự kiến hoàn thành công việc vào tháng 05/2007.

Ngày 31/05/2007, cũng với lý do trên, Ban Hội thẩm thông báo với DSB rằng họ không thể hoàn thành công việc và lùi thời điểm ban hành Báo cáo sang tháng 09/2007. Tuy nhiên phải đến ngày 16/11/2007, Ban Hội thẩm mới hoàn thành Báo cáo và gửi tới tất cả các thành viên WTO. Trong đó Ban Hội thẩm kết luận EC đã vi phạm các Điều 2.2.1.1, 2.2.2, 2.2.2(iii), 3.1, 3.2, 3.4, 3.5, 4.1, 5.4, 6.4, 6.8 và đoạn 3 Phụ lục II, 6.10, 9.2, 9.4(i) và 9.4(ii) của Hiệp định ADA. Về các vấn đề khác, Ban Hội thẩm nhận thấy EC không vi phạm và áp dụng “tinh giản tài phán” (không ra phán quyết đối với các vấn đề mà trước đó đã có kết luận cho các vấn đề tương tự nó) đối với các vấn đề này.

Tại cuộc họp ngày 15/01/2008, DSB đã thông qua Báo cáo của Ban Hội thẩm

Thực thi

Tại cuộc họp của DSB ngày 08/02/2008, EC thông báo ý định thực thi các phán quyêt và khuyến nghị của DSB nhưng cần một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện do tính chất phức tạp của các phán quyết. Do đó, EC sẵn sàng đàm phán về khoảng thời gian đó với Na-uy phù hợp với Điều 21.3(b) của DSU. Ngày 06/05/2008, Na-uy và Ec thông báo với DSB rằng họ đã đạt được thỏa thuận về khoảng thời gian hợp lý để EC thực thi các khuyến nghị và phán quyết của dSB là 10 tháng kể từ ngày Báo cáo của Ban Hội thẩm được thông qua. Theo đó, thời gian trên sẽ hết hạn vào ngày 15/11/2008.