Nghiên cứu - Tranh luận

  • Đánh giá tác động tổng thể khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO đến thay đổi xuất nhập khẩu và thể chể

     Nhóm tác giả: Claudio Dordi, Michel Kostecki, Francesco Abbate, Andrina Lever & Paul Baker và Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh,Võ Trí Thành, Đinh Hiền Minh, Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Thị Miêng, Nguyễn Đức Thanh, Dương Ngọc Thí, Bùi Trung Nghĩa, Đặng Đức Anh, Nguyễn Đăng Bình, Nguyễn Lê Minh, Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thanh Huấn và Nguyễn Thị Thủy Báo cáo này được chuẩn bị nhằm đánh tác giá tác động về kinh tế xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO. Các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, khung khổ pháp lý, xã hội và phân tích ngành đã xác định những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các cam kết của mình. Các khuyến nghị mang tính dài hạn đưa ra nhằm giúp Việt Nam củng cố thêm những lợi ích khi tham gia vào hệ thống thương mại đa biên. Báo cáo được chia thành sáu lĩnh vực chủ yếu: kinh tế vĩ mô, hoạt động ngoại thương, đầu tư và phát triển công nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn, môi trường kinh doanh và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tác động xã hội.
  • Báo cáo “Tác động Hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập WTO”

    Nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hai năm. Đây là quãng thời gian chưa đủ dài để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Sự nghiệp Đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đã trải qua hơn 22 năm. WTO không phải là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình hội nhập của Việt Nam. Đồng thời với việc gia nhập WTO, nước ta cũng đã và đang tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực với mức độ mở cửa cao hơn cam kết trong WTO (như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); các khu vực mậu dịch tự do ASEAN+1). Những khác biệt trong cam kết giữa các hiệp định thương mại có thể tạo ra hiệu ứng thương mại và đầu tư khác nhau. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hai năm 2007-2008 còn chịu tác động tương tác giữa quá trình hội phập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang (từ cuối năm 2007 đến tháng 8/2008); khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới bước vào suy thoái nghiêm trọng. Chính vì vậy việc đánh giá tác động hội nhập với nền kinh tế cũng trở nên khó khăn hơn.
  • Báo cáo "Rà soát khuôn khổ pháp lý về Dịch vụ phân phối ở Việt Nam và Những khuyến nghị về sự phù hợp của các quy định chuyên ngành với cam kết WTO"

    Thị trường phân phối mở cửa và cạnh tranh là điều kiện thiết yếu cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, chính phủ nhiều quốc gia kể cả phát triển và đang phát triển tiếp tục hạn chế cạnh tranh trên thị trường phân phối và duy trì nhiều biện pháp hạn chế đối với hoạt động thương mại dịch vụ phân phối, ví dụ như các quy định về giờ mở cửa hay rào cản đối với việc gia nhập thị trường bằng các yêu cầu đăng ký (cửa hàng), ngưỡng (threshold) về chỗ ngồi và/hoặc diện tích cửa hàng, làm giảm hiệu suất của ngành phân phối cũng như áp lực cạnh tranh, dẫn đến tăng trưởng việc làm thấp và giá tiêu dùng tăng cao.
  • Giới thiệu về tổ chức thương mại thế giới và quá trình gia nhập của Việt Nam

    Sau chiến tranh Thế giới II, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế và thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã cùng nhau nỗ lực kiến tạo một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, đồng thời với sự ra đời của các định chế tài chính quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và gắn bó chặt chẽ với các định chế này. Ban đầu, các nước dự kiến thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là một tổ chức chuyên môn thuộc Liên hiệp quốc. Tháng 2/1946, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc triệu tập một "Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm" với mục tiêu dự thảo Hiến chương cho Tổ chức Thương mại Quốc tế. Dự thảo Hiến chương thành lập ITO không những chỉ điều chỉnh các quy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ.