Nghiên cứu - Tranh luận

  • Vòng đàm phán Doha và tác động đối với Việt Nam

    Vòng đàm phán Đô-ha (hay còn được gọi là Chương trình nghị sự Đô-ha về Phát triển DDA) được khởi động tại Hội nghị Bộ trưởng WTO (MC) lần thứ 4, tổ chức tại Đô-ha, Quatar tháng 11 năm 2001. Mục tiêu ban đầu mà các Bộ trưởng đề ra là kết thúc Vòng Đô-ha vào năm 2005 nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được.
  • Báo cáo “Tác động của Hội nhập Kinh tế Quốc tế đối với Nền kinh tế sau ba năm Việt Nam gia nhập WTO”

    Tuy Việt Nam mới trở thành thành viên WTO được 3 năm, nhưng tiến trình HNKTQT của nước ta đã trải qua gần 20 năm. Từ đầu thập niên 1990, đất nước bắt đầu mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh thông thương với bên ngoài và tiếp nhận luồng vốn FDI. Việc trở thành thành viên ASEAN năm 1995 đánh dấu bước đi quan trọng đầu tiên trong HNKTQT.
  • Hội nhập kinh tế và Sự phát triển ở Việt Nam

    Hơn hai thập kỷ hội nhập chính là động cơ chủ yếu cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO. Mặc dù trong hơn hai thập kỷ qua, hội nhập kinh tế đã mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng Việt Nam vẫn cần hội nhập sâu hơn nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thập kỷ tới.
  • Báo cáo “Phân tích thâm hụt thương mại của Việt Nam và các điều khoản về cán cân thanh toán của WTO”

    Kể từ 2002, ở Việt Nam đã xuất hiện thâm hụt thương mại gia tăng mang tính chất hệ thống, đến nay đã đạt đến mức cao trong lịch sử. Thâm hụt thương mại mang tính cơ cấu là gánh nặng lớn đối với Cán cân Thanh toán (BOP) của quốc gia, và kết quả là cán cân vãng lai đã rơi vào tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây. Mặc dù tình hình BOP của Việt Nam không bị coi là đáng báo động, nhưng thực trạng này yêu cầu cần phân tích sâu sắc về các nguyên nhân kinh tế và chính sách thương mại cũng như các bước đi để lọai bỏ bất cập này. Quá trình hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới cũng định hình lại môi trường chính sách thương mại ở Việt Nam cũng như các cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại tạo ra khung khổ cho các biện pháp đối phó với các bất cập liên quan đến BOP. 
  • Báo cáo “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 (CSSSD) và tầm nhìn tới năm 2025”

     Thực hiện: Ông Andras Lakatos; Ông Michel Kostecki; Bà Andrea Spears; Ông Daniel Linotte; Ông Nguyễn Hồng Sơn; Ông Nguyễn Đức Kiên; Ông Nguyễn Mạnh Hùng; Ông Lê Triệu Dũng; Bà Phạm Thị Phượng; Ông Nguyễn Sơn; Ông Trần Minh Tuấn; Ông Đoàn Thái SơnTrong vòng hai, ba thập kỷ vừa qua, các nhà kinh tế, và ở mức độ ít hơn là các nhà hoạch định chính sách, đã ngày càng chú ý nhiều hơn tới sự đóng góp của các ngành dịch vụ tới quá trình phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Tuy nhiên, giá trị của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế vẫn thường chưa đươc đánh giá đúng mức, khi hoạch định các chính sách như chính sách thuế, thương mại và trợ cấp, ngành sản xuất vẫn thu hút được nhiều sự chú ý về mặt chính trị và nguồn lực hơn. 
  • Đánh giá tác động tổng thể khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO đến thay đổi xuất nhập khẩu và thể chể

     Nhóm tác giả: Claudio Dordi, Michel Kostecki, Francesco Abbate, Andrina Lever & Paul Baker và Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh,Võ Trí Thành, Đinh Hiền Minh, Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Thị Miêng, Nguyễn Đức Thanh, Dương Ngọc Thí, Bùi Trung Nghĩa, Đặng Đức Anh, Nguyễn Đăng Bình, Nguyễn Lê Minh, Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thanh Huấn và Nguyễn Thị Thủy Báo cáo này được chuẩn bị nhằm đánh tác giá tác động về kinh tế xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO. Các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, khung khổ pháp lý, xã hội và phân tích ngành đã xác định những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các cam kết của mình. Các khuyến nghị mang tính dài hạn đưa ra nhằm giúp Việt Nam củng cố thêm những lợi ích khi tham gia vào hệ thống thương mại đa biên. Báo cáo được chia thành sáu lĩnh vực chủ yếu: kinh tế vĩ mô, hoạt động ngoại thương, đầu tư và phát triển công nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn, môi trường kinh doanh và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tác động xã hội.
  • Báo cáo “Tác động Hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập WTO”

    Nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hai năm. Đây là quãng thời gian chưa đủ dài để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Sự nghiệp Đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đã trải qua hơn 22 năm. WTO không phải là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình hội nhập của Việt Nam. Đồng thời với việc gia nhập WTO, nước ta cũng đã và đang tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực với mức độ mở cửa cao hơn cam kết trong WTO (như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); các khu vực mậu dịch tự do ASEAN+1). Những khác biệt trong cam kết giữa các hiệp định thương mại có thể tạo ra hiệu ứng thương mại và đầu tư khác nhau. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hai năm 2007-2008 còn chịu tác động tương tác giữa quá trình hội phập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang (từ cuối năm 2007 đến tháng 8/2008); khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới bước vào suy thoái nghiêm trọng. Chính vì vậy việc đánh giá tác động hội nhập với nền kinh tế cũng trở nên khó khăn hơn.