Quyết định xác định trị giá hải quan cho phép Cơ quan Hải quan yêu cầu nhà nhập khẩu cung cấp thêm thông tin khi có lí do để nghi ngờ về tính chính xác của giá trị khai báo hàng nhập khẩu. Nếu nghi ngờ của cơ quan hải quan là hợp lý, bất kể có thông tin bổ sung nào, có thể cho rằng trị giá hải quan của hàng nhập khẩu không thể căn cứ trên giá trị khai báo, và cơ quan hải quan cần phải tính giá trị dựa trên các điều khoản của Hiệp định. Thêm vào đó, hai phụ lục đi kèm làm rõ thêm một số điều khoản của Hiệp định liên quan đến các nước đang phát triển, đến giá trị tối thiểu và hàng nhập khẩu thông qua đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền, và người thừa kế kinh doanh độc quyền.
Văn bản Hiệp định:
Hiệp định Xác định trị giá tính thuế hải quan (thực thi điều VII của GATT 1994)
Câu hỏi thường gặp:
Để tính thuế nhập khẩu (thuế hải quan) cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu, hải quan các nước thường dùng 03 phương pháp sau:
Trong số 03 phương pháp tính thuế quan nói trên, phương pháp thứ nhất được xem là công bằng và thuận tiện nhất. Công bằng vì thuế phải nộp cho hàng giá rẻ sẽ thấp hơn thuế phải nộp cho hàng giá cao (trong khi cách tính theo định lượng thì cứ hàng nặng hơn, nhiều hơn thì thuế cao hơn). Thuận tiện vì doanh nghiệp dễ xác định mức thuế để tính toán giá khi giao dịch; Nhà nước cũng dễ ước tính nguồn thu từ thuế.
Cho đến nay hầu hết các nước đã sử dụng phương pháp tính thuế theo phần trăm trị giá hàng hoá.
Để tính thuế theo phương thức “phần trăm trị giá hàng hoá”, điểm mấu chốt là xác định “trị giá hàng hoá” để tính thuế (hay còn gọi là “trị giá tính thuế hải quan”).
Đây được xem là vấn đề gây nhiều mâu thuẫn giữa cơ quan thu thuế (hải quan) và doanh nghiệp nộp thuế. Hải quan luôn có xu hướng muốn tính thuế nhiều hơn, và vì thế chọn phương pháp tính toán nào cho trị giá hàng hoá cao nhất có thể. Doanh nghiệp lại luôn muốn thuế thấp nhất, vì thế muốn sử dụng phương pháp tính nào đó để có trị giá hàng hoá khai báo thấp.
Để giải quyết mâu thuẫn này, tạo điều kiện thuận lợi để tự do hóa thương mại, các nước thành viên WTO đã đàm phán và thông qua Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan (Agreement on Custom Valuation – sau đây gọi là Hiệp định CVA) nhằm thống nhất về phương pháp tính trị giá hàng hoá.
|
Hộp 1 - Hiệp định Xác định Trị giá tính thuế hải quan có lợi cho ai? Hiệp định CVA được xây dựng trên tư tưởng tự do hoá thương mại (có lợi cho doanh nghiệp) nhưng vẫn tôn trọng chủ quyền tương đối của các quốc gia thành viên. Do đó:
|
Các doanh nghiệp cần nắm vững các nguyên tắc tính trị giá tính thuế hải quan của Hiệp định này bởi đây sẽ là công cụ để doanh nghiệp bảo vệ lợi ích thiết thân của mình khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá.
Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan nêu 01 phương pháp chuẩn và 05 phương pháp thay thế (sử dụng trong trường hợp không áp dụng phương pháp chuẩn).
Hải quan các nước thành viên WTO phải tuân thủ các nguyên tắc này khi xác định trị giá tính thuế. Các doanh nghiệp nộp thuế cũng cần hiểu và vận dụng các nguyên tắc này để bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp cơ quan hải quan hành xử không phù hợp.
Phương pháp tính chuẩn: Trị giá hàng hoá được sử dụng để tính thuế nhập khẩu là giá thực trả hoặc giá sẽ phải trả khi hàng hoá được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu (gọi là giá giao dịch). Nói cách khác, giá sử dụng để tính thuế sẽ là giá ghi trên hợp đồng mua bán ngoại thương, trên hoá đơn bán hàng. Mức giá này có thể được điều chỉnh cộng thêm một số loại chi phí hợp lý.
Các phương pháp tính thay thế là các phương pháp xác định giá tính thuế thay thế khi hải quan quyết định không áp dụng phương pháp chuẩn (tức là không thừa nhận giá giao dịch làm giá tính thuế hải quan). Bao gồm:
Giá giao dịch có nhiều loại (giá FOB, CIF…), trong đó có những loại không bao hàm hết những chi phí mà người mua/nhập khẩu thực sự phải trả hoặc đã trả. Vì vậy, để đảm bảo tính công bằng khi xác định trị giá tính thuế hải quan (phản ánh đúng trị giá hàng hoá), Hiệp định về Xác định trị giá tính thuế hải quan quy định một danh sách hạn chế các loại chi phí được cộng vào giágiao dịch (khi cơ quan hải quan xác định trị giá tính thuế). Lưu ý đây là danh sách “đóng”, tức là ngoài các loại chi phí trong danh sách, không loại chi phí nào khác được cộng thêm vào giá giao dịch để tính thuế hải quan.
Ngoài ra, có một số loại chi phí khác có thể được tính cộng thêm vào giá giao dịch một cách có điều kiện (chỉ được cộng thêm vào giá hợp đồng nếu trước đó các chi phí này có thể tách biệt khỏi giá hợp đồng).
|
Hộp 2 - Các loại chi phí được phép cộng vào giá mua bán hàng hoá để xác định giá tính thuế hải quan
|
Phương pháp xác định giá tính thuế hải quan mà các nước thành viên WTO bắt buộc áp dụng là tính theo giá giao dịch. Mặc dù vậy, Hiệp định CVA vẫn cho phép hải quan nước nhập khẩu được phép nghi ngờ giá giao dịch là không chính xác (không phản ánh đúng trị giá hàng hoá) và được áp dụng các phương pháp thay thế khác.
Tuy nhiên, để đảm bảo rằng hải quan không lạm dụng quyền này để tuỳ tiện từ chối dùng phương pháp tính theo giá giao dịch, Hiệp định quy định những điều kiện và tình huống cụ thể mà hải quan được phép không công nhận giá trị giao dich. Ngoài các tình huống này, hải quan buộc phải xác định giá tính thuế theo giá giao dịch.
Cụ thể, các trường hợp sau hải quan được phép không công nhận giá trị giao dịch mà người nhập khẩu kê khai:
Việt Nam gia nhập WTO và không có bảo lưu gì với Hiệp định này, vì vậy cơ quan hải quan của Việt Nam phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện xác định giá tính thuế nói trên.
Đây là một thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp nhập khẩu so với trước đây, và doanh nghiệp cần có hiểu biết đầy đủ để tận dụng công cụ này bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Theo quy định của Hiệp định CVA, Hải quan có quyền nghi ngờ giá mà nhà nhập khẩu khai báo. Và họ không có nghĩa vụ phải chứng minh nghi ngờ của mình (họ chỉ cần “có lý do để nghi ngờ”).
Trách nhiệm chứng minh rằng “nghi ngờ đó là không có cơ sở” thuộc về doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến trách nhiệm chứng minh này để hành động kịp thời, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Chỉ khi chứng minh và thuyết phục được cơ quan hải quan rằng nghi ngờ của họ đối với giá giao dịch là không có cơ sở thì doanh nghiệp mới có hy vọng được tính giá tính thuế là giá giao dịch.
Hiệp định CVA quy định 05 phương pháp tính thuế hải quan thay thế trong trường hợp hải quan có nghi ngờ về trị giá giao dịch và quyết định không thừa nhận giá này là giá tính thuế.
Thực tế chỉ có 04 phương pháp cụ thể, áp dụng theo trình tự lần lượt (chỉ khi phương pháp trước không thể áp dụng thì mới sử dụng phương pháp sau):
Trường hợp không thể dùng giá giao dịch của hàng hoá cần tính thuế thì hải quan trước hết phải dùng giá giao dịch của một loại hàng hoá giống hệt (giống hoàn toàn về các đặc tính vật lý, mục đích sử dụng, danh tiếng) làm giá tính thuế.
Nếu không thể tìm được trị giá giao dịch của loại hàng giống hệt thì hải quan sẽ dùng đến giá giao dịch của hàng hoá tương tự (hàng hóa gần giống về thành phần, đặc điểm với loại hàng hoá cần tính thuế).
|
Hộp 3 - Xác định giao dịch của hàng hoá giống hệt hoặc tương tự để thay thế như thế nào? Giao dịch của hàng hoá giống hệt hoặc tương tự được lựa chọn để xác định giá tính thuế phải là giao dịch của hàng giống hệt hoặc tương tự được nhập khẩu vào nước đó từ cùng một nước xuất khẩu, vào cùng một thời điểm và của cùng nhà sản xuất với loại hàng hoá đang cần tính thuế. Chỉ trong trường hợp nhà sản xuất liên quan không sản xuất bất kỳ loại hàng hoá giống hệt hay tương tự nào thì người ta mới lấy giá giao dịch của hàng giống hệt hoặc tương tự do nhà sản xuất khác trong cùng nước xuất khẩu. |
Phương pháp này cho phép hải quan xác định giá tính thuế cho loại hàng hoá cần tính thuế trên cơ sở giá bán của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự tại trường nước nhập khẩu sau khi đã trừ đi các khoản như lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác, phí vận tải và bảo hiểm cùng các chi phí khác phát sinh trên lãnh thổ nước nhập khẩu.
|
Hộp 4 - Công thức xác định giá tính thuế theo trị giá khấu trừ Giá tính thuế = Giá bán tại thị trường nước NK (của hàng tương tự hoặc giống hệt) - Thuế nhập khẩu (và thuế khác) - Phí vận tải và bảo hiểm - Lợi nhuận - Các chi phí khác từ lúc nhập khẩu. |
Phương pháp này xác định giá tính thuế bằng giá thành để sản xuất ra loại hàng hoá đang cần tính thuế cộng với một khoản lợi nhuận và các chi phí chung (ở mức tương đương với lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại được sản xuất để xuất khẩu bởi cùng một nhà sản xuất ở nước xuất khẩu).
|
Hộp 5 - Công thức tính theo trị giá tính toán Giá tính thuế = Giá thành sản xuất ra hàng hoá đó + Lợi nhuận + Chi phí chung |
Khi không thể xác định giá tính thuế theo bất kỳ phương pháp nào trong số bốn phương pháp nói trên, hải quan có thể đi đến lựa chọn cuối cùng (tương đối bất lợi cho doanh nghiệp) là xác định giá tính thuế theo một phương pháp linh hoạt dựa trên một trong bốn phương pháp đó.
Tuy nhiên, hải quan không được xác định trị giá tính thuế theo:
Chú ý: Việc lựa chọn phương pháp tính toán nào và quá trình tính toán của hải quan đều phải cho phép doanh nghiệp được tham gia ý kiến và trình bày lập luận của mình. Vì vậy các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến quyền tham gia này để bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của mình.
Bản thân nguyên tắc xác định giá tính thuế theo giá giao dịch ghi nhận trong Hiệp định CVA đã là một biểu hiện của sự bảo vệ lợi ích của các thương nhân, doanh nghiệp trung thực.
Ngoài ra, Hiệp định còn ghi nhận nhiều quyền của doanh nghiệp (mà đặc biệt là quyền của nhà nhập khẩu):
Chú ý: Đến thời điểm này, tất cả các thành viên WTO đều phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ quy định trong Hiệp định (không có ngoại lệ nào). Vì vậy, hải quan tất cả các nước thành viên WTO đều phải tôn trọng các quyền nói trên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể tự mình hoặc thông qua Chính phủ nước mình để bảo vệ các quyền này nếu hải quan nước nhập khẩu không tuân thủ đúng các nghĩa vụ liên quan.
Quy định về trình tự, thủ tục, phương pháp trị giá tính thuế hải quan của Việt Nam được xây dựng tuân thủ các nguyên tắc tại Hiệp định CVA của WTO. Các văn bản quy định về vấn đề này bao gồm:
Doanh nghiệp có thể tìm hiểu thông tin cụ thể hơn tại website của Tổng Cục Hải quan (http://www.customs.gov.vn)
Theo quy định, Hải quan được quyền nghi ngờ giá giao dịch mà nhà nhập khẩu khai báo là không chính xác và có thể sử dụng các phương pháp xác định giá tính thuế khác. Tuy nhiên, Hiệp định cũng đồng thời quy định một số quyền của người nộp thuế trong trường hợp này: