Nghiên cứu vụ việc

EU điều tra chống bán phá giá đối với khăn lạnh trải giường loại cotton

Nước điều tra : Cộng đồng Châu Âu (EC)

Sản phẩm bị điều tra : Khăn lanh trải giường loại cotton

Nước có sản phẩm bị điều tra : Ấn Độ, Pakistan, Ai Cập

Vụ khăn trải giường là một trong những vụ kiện chống bán phá giá phức tạp nhất mà Uỷ ban Châu Âu (Uỷ ban) tiến hành trong thời gian gần đây. Tính phức tạp của vụ việc xuất phát từ các yếu tố sau đây:

1) Vụ kiện được tiến hành nhằm vào 3 nước xuất khẩu (Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan) với một số lượng đặc biệt lớn các nhà xuất khẩu;

2) Quyết định sơ bộ của Uỷ ban bị Ấn Độ kiện ra WTO theo cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức này và đã bị Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO (DSB) huỷ bỏ;

3) Tuân thủ phán quyết của DSB, Uỷ ban đã phải sửa quyết định sơ bộ và đình chỉ hoặc chấm dứt vụ việc (tuỳ từng trường hợp);

4) Sau khi chấm dứt vụ việc đầu tiên, một vụ khác đã được khởi xướng đối với khăn trải giường có xuất xứ từ Pakistan dẫn tới quyết định áp thuế chống bán phá giá năm 2006;

1. Vụ Điều Tra Năm 1996

Ngày 30/7/1996, Hội đồng Bông và Liên minh các ngành sản xuất dệt may Liên minh Châu Âu (Eurocoton), một hiệp hội của các nhà sản xuất đồ may mặc và hàng tương tự của Châu Âu chiếm phần lớn tổng sản phẩm của ngành sản xuất khăn lanh trải giường loại cotton ở châu Âu, đã nộp đơn khởi kiện chống bán phá giá. 

1.1 Thông báo khởi kiện

Ngày 13/9/1996, Uỷ ban ra Thông báo trên Công báo về việc khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với khăn lanh trải giường loại cotton nhập khẩu từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan. Việc khởi xướng điều tra này phù hợp với Điều 5.9 Quy định về chống bán phá giá của EC theo đó nếu có đủ bằng chứng làm căn cứ khởi xướng điều tra thì Uỷ ban phải khởi xướng vụ điều tra trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện.

Xin được lưu ý là theo Điều 5 (2) Quy định về chống bán phá giá của EC, nguyên đơn phải cung cấp « đủ bằng chứng » cho Uỷ ban (mà cụ thể là Văn phòng xử lý đơn kiện thuộc Tổng vụ Thương mại) chứng minh về (i) hiện tượng bán phá giá ; (ii) thiệt hại mà ngành sản xuất của Cộng đồng phải chịu, (iii) mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá với thiệt hại nói trên ; và phải nêu được rằng (iv) việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là vì lợi ích của Cộng đồng.

Trước hết đơn kiện sẽ được Văn phòng xử lý đơn kiện phân tích và sau đó sẽ chuyển sang một thủ tục khác, gọi là « tham vấn nội bộ » với Uỷ ban châu Âu. Nếu không có phản đối lớn trong quá trình tham vấn này thì đơn kiện sẽ được chuyển của Tổng Giám đốc Tổng vụ Thương mại và tiếp đó là Văn phòng của Uỷ viên châu Âu. Sau khi được các cơ quan này phê chuẩn, đơn kiện sẽ được trình lên Uỷ ban Tư vấn (Advisory Committee) để xin chấp thuận chính thức của các Quốc gia thành viên Cộng đồng châu Âu.

Khi Uỷ ban Tư vấn đã phê chuẩn đơn kiện, quyết định khởi xướng vụ kiện sẽ được đăng tải trên Công báo của EU (Thông báo khởi xướng vụ kiện). Trên thực tế, Cộng đồng châu Âu sẽ thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nước bị kiện về việc này 10 ngày trước khi đăng tải Thông báo khởi xướng vụ kiện. Thông tin này là rất quan trong đối với các nhà sản xuất/xuất khẩu nước bị kiện bởi nó cho phép họ tự xác định liệu hàng hoá của mình có thuộc phạm vi điều tra hay không và có cần phải hợp tác tham gia vụ điều tra hay không.

Giai đoạn điều tra được Uỷ ban lựa chọn là từ 1/7/1995 đến 30/6/1996.

Về điều này, xin lưu ý rằng cuộc điều tra được thực hiện trên 02 phương diện (bao gồm điều tra về việc bán phá giá, và điều tra về thiệt hại) được thực hiện bởi 02 bộ phận khác nhau. Việc điều tra được tiến hành dựa trên các số liệu trong « Giai đoạn điều tra » (Period of Investigation), tức là khoảng thời gian ít nhất là 6 tháng (xem Điều 6 (1) Quy định về chống bán phá giá của EC). Trên thực tế, POI thường bao trùm một khoảng thời gian là 12 tháng liền trước Thông báo khởi xướng vụ kiện. Để điều tra về thiệt hại, thường thì Uỷ ban sẽ xem xét diễn tiến của các yếu tố thiệt hại trong một khoảng thời gian dài hơn, thường là từ 3 đến 4 năm, liền trước Thông báo khởi xướng điều tra.

1.2 Chọn mẫu điều tra

Vì vụ việc có quy mô lớn và phức tạp (đặc biệt có liên quan tới một số lượng rất lớn các nhà nhập khẩu), Uỷ ban đã ra thông báo về ý định áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo Điều 17 Quy định về chống bán phá giá của EC. Theo Điều khoản này, trong các trường hợp số lượng nguyên đơn, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, loại sản phẩm hoặc số giao dịch liên quan quá lớn thì việc điều tra có thể chỉ giới hạn ở một số lượng thích hợp các công ty, sản phẩm hoặc giao dịch. Các bên liên quan muốn tham gia vào quá trình lựa chọn có 15 ngày để tự giới thiệu về mình và cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan, đặc biệt là các thông tin về lượng xuất khẩu và lượng hàng bán trong nội địa.

Việc chọn mẫu điều tra đã được thực hiện trên cơ sở thoả thuận với đại diện của các công ty, hiệp hội và chính phủ liên quan. Kết quả là về phía các các nhà sản xuất xuất khẩu, Uỷ ban đã chọn 4 công ty Ai Cập, 7 công ty Ấn Độ và 7 công ty Pakistan vào mẫu điều tra. Uỷ ban cũng chọn 17 nhà sản xuất Châu Âu và một nhà nhập khẩu liên quan cho cuộc điều tra này.

Thường thì Uỷ ban áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo Điều 17 Quy định về chống bán phá giá của EC khi vụ điều tra có liên quan đến một số lượng lớn nhà xuất khẩu (hoặc nhập khẩu, hoặc loại sản phẩm). Trong những trường hợp vậy, Uỷ ban sẽ giới hạn việc điều tra ở một số lượng các nhà xuất khẩu (một số lượng cho phép kiểm soát được) bằng cách sử dụng các mẫu có giá trị thống kê và có khả năng thể hiện được một bức tranh đáng tin cậy về thị trường nội địa có liên quan đến vụ điều tra.

Điều 17 Quy định về chống bán phá giá của EC không quy định các thông số cụ thể cho việc chọn mẫu. Trong thực tế, Uỷ ban thường lựa chọn các nhà xuất khẩu có lượng bán hàng nội địa và/hoặc xuất khẩu sang EC lớn. Các nhà sản xuất/xuất khẩu muốn được lựa chọn vào mẫu phải trình trả lời bảng câu hỏi chọn mẫu trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Thông báo khởi xướng điều tra.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh là trên thực tế, Uỷ ban thường xuyên tham vấn ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền và các hiệp hội quốc gia của nước có sản phẩm bị điều tra để đi đến một thoả thuận chung về việc lựa chọn mẫu điều tra. Do đó, các công ty muốn hợp tác tích cực vào quá trình điều tra chống bán phá giá cần liên hệ chặt chẽ với các chủ thể nói trên ngay từ những giai đoạn đầu của cuộc điều tra (thậm chí là trước khi có thông báo khởi xướng điều tra) nếu muốn tăng cơ hội được lựa chọn điều tra. Với tư cách là một nhà xuất khẩu thì việc được chọn vào mẫu điều tra có ý nghĩa rất quan trọng bởi chỉ những công ty được lựa chọn làm mẫu điều tra mới được tính biên phá giá riêng (như sẽ trình bày kỹ hơn trong phần sau).

1.3 Sản phẩm tương tự

Sản phẩm là đối tượng bị điều tra trong vụ kiện này là «khăn lanh trải giường loại 100% sợi cotton hoặc pha giữa sợi cotton và sợi dệt tay hoặc sợi lanh, được tẩy trắng, nhuộm hoặc in».

Uỷ ban đã phải tiến hành kiểm tra xem khăn lanh trải giường loại cotton mà EC sản xuất và bán trên thị trường EC có phải là sản phẩm tương tự với khăn lanh trải giường loại cotton xuất xứ tại Ai Cập, Ấn Độ, Pakistan và xuất sang thị trường EC hay không.

Đại diện của một số bên liên quan đã cho rằng khăn lanh trải giường tẩy trắng cần được loại khỏi phạm vi sản phẩm bị điều tra vì đây không thể xem là sản phẩm tương tự. Họ lập luận rằng khăn lanh trải giường tẩy trắng khác loại khăn lanh trải giường nhuộm hay in cả về kỹ thuật lẫn đối tượng sử dụng cuối cùng (khăn trải giường nhuộm trắng chủ yếu sử dụng trong các bệnh viện và khách sạn).

Xin lưu ý là một khi sản phẩm bị điều tra (ở đây là sản phẩm nhập khẩu từ một hoặc các nước bị điều tra) được xác định, người ta sẽ tiến hành xem xét xem sản phẩm được sản xuất tại các nước bị điều tra và bán vào thị trường EC và sản phẩm sản xuất và bán tại EC bởi ngành sản xuất của EC có phải là các sản phẩm tương tự với nhau hay không.

Đối với các nhà sản xuất xuất khẩu, việc yêu cầu loại một sản phẩm nào đó khỏi phạm vi sản phẩm bị điều tra (đặc biệt khi sản phẩm đó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng của họ) nếu họ cho rằng sản phẩm đó không phải là sản phẩm tương tự với sản phẩm được sản xuất bởi ngành sản xuất EC là rất quan trọng.

Trong vụ khăn lanh trải giường này, Uỷ ban thấy rằng EC có sản xuất sản phẩm khăn lanh trải giường tẩy trắng và một số sản phẩm loại này không phải chỉ được sử dụng bởi một nhóm đối tượng riêng biệt. Do đó, Uỷ ban đã đi đến kết luận rằng mặc dù có sự khác biệt nhất định giữa nhóm sản phẩm sản xuất tại EC và nhóm sản phẩm được xuất sang EC hoặc bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu nhưng không có sự khác biệt về các đặc tính cơ bản và cách thức sử dụng giữa các sản phẩm khăn lanh trải giường thuộc các loại và chất lượng khác nhau. Vì vậy các sản phẩm sản xuất và xuất khẩu bởi các nước bị điều tra và sản phẩm sản xuất và bán tại EC được xem là sản phẩm tương tự theo cách hiểu tại Điều 1.4 Quy định về chống bán phá giá của EC.

1.4 Áp dụng các biện pháp tạm thời

Ngày 13/6/1997, Uỷ ban công bố Quyết định áp dụng biện pháp tạm thời (áp thuế chống bán phá giá tạm thời) đối với sản phẩm khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan. 

Như thông lệ trong điều tra chống bán phá giá của Uỷ ban, các công ty được lựa chọn làm mẫu điều tra và hợp tác đầy đủ trong cuộc điều tra được hưởng biên độ phá giá riêng và mức thuế chống bán phá giá riêng. Các biên phá giá riêng được tính cho Ấn Độ dao động từ 3,9% đến 27,3%, các biên phá giá của Ai Cập là từ 9,1% đến 13,5%, của Pakistan là 0,2% đến 8,2% (biên phá giá 0,2% được xem là biên phá giá không đáng kể de minimis theo Điều 9.3 Quy định về chống bán phá giá EC).

Trong vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng việc hợp tác đầy đủ trong quá trình điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với kết quả của vụ việc (tức là mức thuế cuối cùng áp đặt cho hàng hoá của một nhà xuất khẩu nhất định). Nếu nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài không hợp tác, Uỷ ban có thể đưa ra quyết định dựa trên các kết luận từ « thông tin sẵn có tốt nhất » theo Điều 18 Quy định về chống bán phá giá của EC.

Điều 18 quy định rằng « trong các trường hợp mà bên liên quan từ chối không cho tiếp cận, hoặc không cung cấp, các thông tin cần thiết trong thời hạn quy định tại Quy định này, hoặc cản trở đáng kể đến cuộc điều tra, các kết luận sơ bộ hoặc cuối cùng, khẳng định hoặc phủ định, có thể được thực hiện dựa trên các thông tin sẵn có ». Hợp tác ở đây, do đó, được hiểu là công ty thực hiện các yêu cầu của Uỷ ban, bằng cách cung cấp các thông tin được yêu cầu trong các thời hạn quy định, chấp nhận cho điều tra thực địa tại cơ sở sản xuất để xác minh các thông tin đó và không cản trở việc điều tra hoặc cố ý lừa đối Uỷ ban theo bất kỳ cách thức nào.

Trong trường hợp một công ty đã được lựa chọn vào mẫu không hợp tác, Uỷ ban có thể quyết định loại công ty đó ra khỏi mẫu ; điều này đồng nghĩa với việc công ty đó sẽ không được hưởng mức thuế riêng.

Các công ty hợp tác nhưng không được lựa chọn điều tra được Uỷ ban thông báo rằng mức thuế chống bán phá giá áp cho hàng hoá của họ sẽ được tính toán theo quy định tại Điều 9.6 Quy định về chống bán phá giá EC, tức là không vượt quá biên phá giá bình quân gia quyền của các công ty trong nhóm mẫu. Như vậy, biên phá giá chung cho các công ty Ấn Độ khác là 13,6% ; đối với Ai Cập là 13,5% (đối với các công ty do Nhà nước kiếm soát) và 13,0% (đối với các công ty còn lại) ; và 6,5% cho các công ty Pakistan.

Những công ty không tự giới thiệu mình trong thời hạn 3 tuần nêu tại Thông báo Khởi xướng điều tra sẽ bị coi là các công ty không hợp tác. Đối với các công ty này, Uỷ ban cho rằng việc áp dụng biên phá giá cao nhất trong số các biên phá giá riêng lẻ của các công ty được chọn mẫu là thích hợp. Đây là một thông lệ chuẩn mà Uỷ ban áp dụng với suy luận rằng sẽ là không công bằng nếu biên phá giá áp dụng cho các nhà sản xuất/xuất khẩu không tự giới thiệu về mình lại thấp hơn biên phá của một nhà sản xuất/xuất khẩu hợp tác.

Một điểm cần lưu ý trong vụ việc này là có 7 công ty hợp tác không được lựa chọn điều tra nhưng vẫn yêu cầu được tính biên phá giá riêng theo Điều 17.3 Quy định về chống bán phá giá EC. Theo Điều 17.3 này thì trong trường hợp việc điều tra có giới hạn nhất định (ví dụ khi áp dụng phương pháp chọn mẫu trong điều tra) thì vẫn có thể tính biên phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu không được chọn điều tra nhưng đã cung cấp các thông tin cần thiết trong thời hạn mà Uỷ ban quy định (mà ở đây là đã trả lời bảng hỏi đối với nhà xuất khẩu). Tuy nhiên, việc tính biên phá riêng như thế này cũng có thể không được thực hiện nếu số lượng các yêu cầu dạng này quá lớn khiến việc tính toán biên phá giá riêng cho tất cả các chủ thể có yêu cầu trở nên khó khăn và khiến cho việc điều tra khó hoàn thành trong thời hạn quy định (tối đa là 15 tháng). Uỷ ban cho rằng vụ việc này rơi vào giả thiết nói trên và đã từ chối các yêu cầu tính biên phá giá riêng của các công ty không được lựa chọn. Quyết định từ chối này còn dựa trên thực tế là số các công ty được lựa chọn từ 3 nước xuất khẩu và của EC đã là quá nhiều và do đó không thể bổ sung thêm các trường hợp tính biên phá giá riêng.

1.5. Nhà xuất khẩu mới (xuất hiện sau khi đã có quyết định áp dụng biện pháp tạm thời)

Sau khi có quyết định áp dụng biện pháp tạm thời, một số nhà xuất khẩu mới từ các nước liên quan mới thông báo về mình trước Uỷ ban, thông thường là vào thời điểm cuối giai đoạn điều tra, và yêu cầu được hưởng quy chế «nhà xuất khẩu mới».

Một vài chủ thể trong số này đã chứng minh được với Uỷ ban là đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đối với nhà xuất khẩu mới (họ không xuất sản phẩm liên quan sang EC trong giai đoạn điều tra mà chỉ mới bắt đầu xuất khẩu sang EC sau giai đoạn này, hoặc đã ký các hợp đồng không hủy ngang để xuất khẩu hàng với số lượng lớn sang EC, và không có mối liên hệ với bất kỳ nhà sản xuất xuất khẩu nào ở các nước bị điều tra về sản phẩm này).

Do đó, các nhà sản xuất-xuất khẩu này được xem là nhà xuất khẩu mới và được hưởng quy chế đối xử, cụ thể là các biện pháp chống bán phá giá chính thức, như quy chế áp dụng đối với các nhà sản xuất xuất khẩu hợp tác nhưng không được lựa chọn điều tra và thuế chống bán phá phá chính thức được xác định cho họ theo quy định tại Điều 9.6 Quy định về chống bán phá giá EC.

1.6. Áp dụng các biện pháp chính thức

Ngày 28/11/1997, Hội đồng Châu Âu thông qua Nghị quyết áp thuế chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan. 

Theo yêu cầu của một số nhà sản xuất-xuất khẩu (nêu trong bản bình luận của họ đối với quyết định sơ bộ của Uỷ ban), Uỷ ban đã đồng ý thực hiện một số điều chỉnh trong các tính toán về biên độ phá giá. Kết quả là một số biên độ phá giá đã được điều chỉnh xuống thấp hơn so với mức thuế tạm thời. Cụ thể, biên phá giá chính thức tính cho các nhà xuất khẩu hợp tác Ấn Độ là từ 2,6%-24,7%, 8,7-13,5% đối với trường hợp của Ai Cập và 0,1% với Pakistan. Lưu ý là có tới 4 trong số 7 công ty Pakistan được lựa chọn có biên phá giá tối thiểu (dưới 2%), do đó việc điều tra đối với 4 công ty này được chấm dứt và họ được hưởng mức thuế chống bán phá giá là 0%. 

Về vấn đề này, lưu ý là có sự phân biệt giữa « việc điều tra » và « vụ việc chống bán phá giá ».

Quy định về chống bán phá giá của EC nêu rõ sự phân biệt này trong Điều 9 (2) và 9 (3) (quy định « việc điều tra hoặc vụ việc chống bán phá giá phải được chấm dứt [....] », hiểu theo nghĩa là việc điều tra chỉ là một giai đoạn mang tính thủ tục trong một vụ việc chống bán phá giá – giai đoạn phục vụ cho việc ra quyết định cuối cùng về việc bán phá giá và thiệt hại – trong khi một vụ việc chống bán phá giá bao trùm toàn bộ quá trình từ khi khởi xướng điều tra cho đến khi hết hạn áp dụng hoặc huỷ biên pháp chống bán phá giá.

Tuy nhiên, Điều 9 (3) cũng nêu rõ rằng các nhà xuất khẩu có biên phá giá thuộc diện de minimis (không đáng kể) và do đó được hưởng mức thuế chống bán phá giá là 0% vẫn là đối tượng của vụ việc chống bán phá giá và có thể bị điều tra lại trong bất kỳ cuộc rà soát nào tiến hành sau đó bởi Uỷ ban theo quy định tại Điều 11.

2. Giải Quyết Tranh Chấp Trong Khuôn Khổ WTO

Sau khi Nghị quyết áp thuế chống bán phá giá chính thức của Hội đồng Châu Âu được đăng tải, Ấn Độ đã quyết định khởi kiện bác bỏ lệnh áp thuế này theo Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Theo Ấn Độ thì các biện pháp chống bán phá giá của EC vi phạm nhiều điều khoản trong Hiệp định về Chống bán phá giá của WTO. Ngày 12/3/2001, Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của Tổ Chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thông qua Phán quyết (do Ban hội thẩm soạn thảo và được Ban Phúc thẩm điều chỉnh) về vụ tranh chấp “EC-thuế chống bán phá giá đối với khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Ấn Độ”. 

Xin nhắc lại rằng khi tiến hành kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu từ một nước thành viên WTO, cơ quan điều tra (trong trường hợp này là Uỷ ban châu Âu) phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Hiệp định của WTO mà cụ thể là Điều VI Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định về chống bán phá giá của WTO.

Do đó các biện pháp chống bán phá giá áp đặt đối với hàng hoá nhập khẩu từ một nước thành viên WTO phải đáp ứng các đòi hỏi về thủ tục và nội dung quy định trong các nguyên tắc khung liên quan của WTO.

Mặc dù WTO – mà chính xác hơn là cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – là một thiết chế đa phương mà chỉ các quốc gia mới có quyền tiếp cận (cá nhân các nhà sản xuất, xuất khẩu không có quyền này), mỗi nhà sản xuất/xuất khẩu cho rằng các nguyên tắc của WTO đã bị vi phạm đều có quyền tiếp cận cơ quan có thẩm quyền của nước mình để thuyết phục Chính phủ khởi kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB).

Với việc Đại hội đồng WTO thông qua quy chế thành viên WTO của Việt Nam vào 7/11/2006, từ tháng 1/2007, các nhà sản xuất/xuất khẩu Việt Nam cũng sẽ có cơ hội này.

2.1. Sơ lược về các kết luận trong Phán quyết

Pháp quyết kết luận rằng các biện pháp thuế chống bán phá giá mà EC áp đặt đối với sản phẩm khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Ấn Độ không tuân thủ Hiệp định về Chống bán phá giá của WTO (ADA), cụ thể là đã vi phạm các điều khoản sau:

1) Điều 2.4.2 của ADA do đã sử dụng phương pháp zeroing khi tính toán biên độ phá giá cho những sản phẩm thuộc các loại khác nhau

2) Điều 3.4 của ADA do không đánh giá đầy đủ các nhân tố gây thiệt hại nêu trong Điều khoản này và đã sử dụng thông tin từ các nhà sản xuất không thuộc ngành sản xuất trong nước liên quan;

3) Điều 15 của ADA do không xem xét khả năng áp dụng các biện pháp khác có tính xây dựng mà lẽ ra phải áp dụng đối với trường hợp của Ấn Độ với tư cách là một nước đang phát triển.

2.2. Về vấn đề “Zeroing”

Trên thực tế, trong quá trình tính toán lô hàng cụ thể nào đã bán phá giá, đôi khi cơ quan điều tra phải thực hiện khá nhiều phép tính so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường và sau đó phải tổng hợp kết quả chung từ các so sánh riêng lẻ này để tính ra một biên phá giá cho sản phẩm nói chung.

Trong vụ việc này, Uỷ ban đã tính biên phá giá theo cách thức sau: trước hết Uỷ ban tính biên phá giá đối với mỗi loại sản phẩm khác nhau, tiếp đó Uỷ ban tính gộp các kết quả này để ra một biên phá giá đối với sản phẩm nói chung. Ở bước thứ nhất, để tính biên phá giá, Uỷ ban đem giá xuất khẩu bình quân gia quyền của mỗi loại sản phẩm so sánh với giá thông thường bình quân gia quyền của loại sản phẩm đó. Tuy nhiên đối với những loại sản phẩm có kết quả so sánh mang giá trị âm (tức là giá xuất khẩu cao hơn giá thông thường, hay còn gọi là biên phá giá âm) thì Uỷ ban đã chuyển các biên phá giá có giá trị âm này về bằng 0 chứ không sử dụng giá trị âm. Bằng cách này, khi tổng hợp tất cả các biên phá giá của từng loại sản phẩm để xác định biên phá giá cho sản phẩm nói chung, các biên phá giá âm đã không được sử dụng để bù đắp cho các biên phá giá dương. Người ta gọi kiểu tính như thế này là “zeroing”, hệ quả của kiểu tính này là nó sẽ làm cho kết quả tính toán biên phá giá luôn bị đội lên do các biên phá giá dương đã được tính với trọng số lớn hơn trong khi các biên phá giá âm lại bị bỏ qua.

Trong kết luận của mình Ban Phúc thẩm giữ nguyên các kết luận của Ban Hội thẩm và đặc biệt nhấn mạnh đến việc các tính toán biên độ phá giá phải tuân thủ các quy định của ADA. Trên cơ sở định nghĩa về bán phá giá tại Điều 2.1, Ban Phúc thẩm cho rằng việc tính toán biên độ phá giá chỉ có thể được thực hiện cho một sản phẩm nói chung chứ “không phải là tính cho “từng giao dịch riêng liên quan đến sản phẩm đó hoặc từng loại/kiểu cụ thể của sản phẩm đó”. Ban Phúc thẩm cũng cho rằng để đạt được kết quả này, Điều 2.4.2 của ADA yêu cầu việc tính toán phải dựa trên kết quả của tất cả các giao dịch liên quan. Do đó, Ban Phúc thẩm cho rằng Uỷ ban Châu Âu, bằng cách áp dụng phương pháp zeroing, đã bỏ qua một số giao dịch khi tính toán biên phá giá đối với sản phẩm nói chung.

2.3. Về vấn đề nước đang phát triển

Vụ EC-Khăn trải giường này là vụ đầu tiên liên quan đến việc áp dụng các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt quy định tại Điều 15 của ADA dành cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực chống bán phá giá. Do đó, nó có ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển.

Điều 15 ADA quy định như sau “Nước Thành viên phát triển phải dành sự lưu tâm đặc biệt đến tình trạng đặc biệt của của Nước Thành viên đang phát triển khi xem xét việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo Hiệp định này. Cần xem xét khả năng áp dụng các biện pháp khác có tính xây dựng theo Hiệp định này trước khi áp dụng các biện pháp thuế chống bán phá giá trong trường hợp chúng có ảnh hưởng đến quyền lợi quan trọng của Nước Thành viên đang phát triển”.

Lập luận trước Ban Hội thẩm, Ấn Độ cho rằng EC đã không áp dụng quy định nói trên, đặc biệt là đã không có sự lưu tâm hợp lý đến các cố gắng của các nhà sản xuất-xuất khẩu Ấn Độ trong việc đưa ra các cam kết về giá để thay thế việc áp dụng các biện pháp thuế chống bán phá giá. Ban Hội thẩm kết luận rằng:

- Thứ nhất, nghĩa vụ xem xét khả năng áp dụng các biện pháp khác có tính xây dựng phải được thực hiện trước khi áp các mức thuế chống bán phá giá chính thức;

- Thứ hai, thuật ngữ “xem xét” có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải “thực hiện các hành động xem xét tích cực, với quan điểm mở, các khả năng áp dụng một biện pháp khắc phục có tính xây dựng trước khi áp dụng một biện pháp chống bán phá giá…”; 

- Thứ ba, việc EC không phản hồi đề xuất của các nhà xuất khẩu liên quan mà chỉ đơn giản là từ chối được xem là đã không thực hiện nghĩa vụ xem xét các khả năng áp dụng biện pháp khắc phục khác có tính xây dựng theo Điều 15 ADA.

Với các lập luận trên, Ban Hội thẩm đã giải thích các quy định trong Điều 15 ADA theo hướng xác định rõ các nghĩa vụ mà nước Thành viên phát triển trong WTO phải thực hiện đối với nước Thành viên đang phát triển khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. EC đã không kháng nghị kết luận này của Ban Hội thẩm.

2.4.  Về tính chắc chắn và có thể dự đoán trước về mặt pháp lý trong khuôn khổ WTO

Kể từ khi thành lập WTO năm 1995 đến nay, cơ quan giải quyết tranh chấp (bao gồm các Ban Hội thẩm được thành lập theo từng vụ việc và Cơ quan Phúc thẩm thường trực) đã hình thành được một hệ thống án lệ khá phong phú về các vấn đề chống bán phá giá.

Đặc biệt, các phán quyết của Cơ quan Phúc thẩm (trong một chừng mực nào đó, cơ quan này có thể xem là “toà phúc thẩm/kháng án” trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO) có giá trị bắt buộc thực hiện và giới hạn “không gian tự do” của các cơ quan có thẩm quyền trong điều tra chống bán phá giá quốc gia. Hệ thống “án lệ” này đã tạo ra tính chắc chắn và có thể dự đoán trước về mặt pháp lý cho các quốc gia thành viên WTO bị kiện chống bán phá giá (đặc biệt là đối với các nhà sản xuất/xuất khẩu). Tuy nhiên, xin nhấn mạnh là DSB đưa ra quyết định theo từng vụ việc, và hoàn cảnh cụ thể của từng vụ tranh chấp không phải lúc nào cũng ủng hộ các nhà xuất khẩu liên quan.

3. Tác động của Phán Quyết của DSB đối với vụ kiện chống bán phá giá tại EC

Phán quyết của DSB đã khiến EC phải xem xét lại các biện pháp thuế chống bán phá giá mà EC đang áp dụng đối với khăn lanh trải giường nhập khẩu. Cụ thể, EC đã nhanh chóng ban hành một Quy định đặc biệt để thực thi Phán quyết của DSB và đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo để các cơ quan liên quan của EC huỷ bỏ, chỉnh sửa hoặc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá phù hợp với Quy định về chống án phá giá của EC và lưu tâm tới các giải thích pháp lý trong Phán quyết của DSB.  Bằng Quy định đặc biệt này EC đã rà soát lại các biện pháp thuế đang áp dụng trong vụ việc.

3.1. Rà soát lại các biện pháp đang áp dụng đối với sản phẩm có xuất xứ từ Ấn Độ

Ngày 8/8/2001, EC thông qua một Quy định mới về vấn đề này, có tính đến Phán quyết và các khuyến nghị liên quan của Cơ quan giải quyết tranh chấp trong WTO – DSB.  Trong Quy định này, Hội đồng Châu Âu đánh giá lại các kết luận về biên phá giá và thiệt hại trên cơ sở các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra ban đầu (năm 1996-1997).

Hội đồng Châu Âu kết luận rằng trên thực tế có việc bán phá giá và thiệt hại, và đã tính toán lại các biên phá giá cho các nhà xuất khẩu Ấn Độ đã hợp tác trong quá trình điều tra mà không áp dụng phương pháp zeroing nữa. Tuy nhiên, Hội đồng cũng quyết định tạm ngừng việc thu thuế chống bán phá giá đối với hàng khăn lanh trải giường từ Ấn Độ. Trên thực tế, Hội đồng cho rằng các khuyến nghị của DSB (hiểu một cách đầy đủ và chi tiết) đòi hỏi phải xem xét nhiều khả năng tính toán chi phí bán hàng, hành chính và lợi nhuận (phương pháp áp dụng trước đây là không phù hợp với quy định của WTO). Tuy nhiên các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra ban đầu chưa đủ để làm được điều này. Do đó, cần phải đình chỉ việc áp thuế chống bán phá giá để các bên liên quan có cơ hội cung cấp thêm thông tin, lập luận, và nếu có thể, đưa ra yêu cầu rà soát lại.

Trên thực tế, ngành sản xuất trong nước của EC đã đưa ra yêu cầu rà soát lại và Uỷ ban đã tiến hành việc rà soát trên cơ sở yêu cầu đó.  Tuy nhiên, rà soát lại cho kết quả là không có việc bán phá giá gây thiệt hại. Vì vậy, rà soát đã chấm dứt vào tháng 12/2003 mà không áp dụng biện pháp chống bán phá giá nào. 

3.2. Rà soát lại các biện pháp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm nhập khẩu từ Ai Cập và Pakistan

Theo Điều 2 Quy định 1515/2001, EC cũng rà soát lại các biện pháp chống bán phá giá đã được áp dụng đối với khăn lanh trải giường nhập khẩu từ Ai Cập và Pakistan. Kết quả là sản phẩm nhập khẩu từ Pakistan không còn bị áp thuế: nguyên nhân là việc tính toán lại cho thấy không có hiện tượng bán phá giá.  Các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm từ Ai Cập bị đình chỉ với lý do để tính toán chính xác biên phá giá cần nhiều thông tin chưa được thu thập đủ trong quá trình điều tra ban đầu. Sau đó, các biện pháp này được chấm dứt hoàn toàn bởi không có ai yêu cầu rà soát lại các biện pháp này khi Uỷ ban ra thông báo về việc các biện pháp này sắp hết hiệu lực. 

3.3. Việc không tuân thủ các phán quyết trong khuôn khổ WTO

Vụ “khăn lanh trải giường” cho thấy việc kiểm soát mang tính pháp lý theo các nguyên tắc khung của WTO đã góp phần bảo đảm việc áp dụng đúng các quy định của WTO và điều này cho phép xem xét lại các biện pháp chống bán phá giá. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng việc tuân thủ ngay các phán quyết (giống như EC đã làm trong trường hợp này) không phải là cách hành xử hiển nhiên của các quốc gia trong tất cả các trường hợp.

Theo Điều 21 Quy tắc về giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (viết tắt là DSU), quốc gia thành viên WTO bị kết luận là vi phạm phải nhanh chóng thực hiện các khuyến nghị hoặc phán quyết của DSB (tức là các phán quyết của Ban Hội thẩm hoặc của Cơ quan phúc thẩm) nhằm đảm bảo giải quyết có hiệu quả các tranh chấp vì lợi ích của tất cả các thành viên WTO. Tiếc là không phải lúc nào các thành viên WTO cũng thực hiện nghĩa vụ “tuân thủ một cách nhanh chóng” này.

Trong hoàn cảnh này, Điều 22 của DSU cho phép quốc gia thành viên thắng kiện có quyền ngừng việc thực hiện các cam kết (ví dụ tạm ngừng mức thuế nhập khẩu ưu đãi) nếu các khuyến nghị hoặc phán quyết không được thực thi trong một khoảng thời gian hợp lý.

4. Vụ điều tra thứ 2 đối với sản phẩm nhập khẩu từ Pakistan

Ngày 18/12/2002, trên Công báo, Uỷ ban ra thông báo khởi xướng điều tra một vụ kiện chống bán phá giá mới đối với khăn lanh trải giường loại cotton nhập khẩu từ Pakistan.  Đơn kiện do Hội đồng Bông và Liên minh các ngành sản xuất dệt may Liên minh Châu Âu (Eurocoton) đứng tên nộp ngày 4/11/2002.

Cũng giống như trong vụ điều tra đầu tiên đối với sản phẩm này, Uỷ ban chọn một mẫu điều tra gồm 6 nhà sản xuất xuất khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra thực địa tại Pakistan, Uỷ ban đã nhận được một lá thư nặc danh đe doạ trực tiếp tính mạng của các cán bộ đang tiến hành điều tra thực địa tại nước này. Việc điều tra thực địa, vì vậy, bị gián đoạn và kết quả là mới chỉ có 1 nhà sản xuất được điều tra đầy đủ tại cơ sở kinh doanh, một nhà sản xuất khác đang được điều tra dở dang. Thêm vào đó, Uỷ ban phá hiện ra rằng Công ty đã được điều tra thực địa đã cung cấp thông tin gian lận.

Hệ quả là biên phá giá tính cho 6 nhà sản xuất xuất khẩu được lựa chọn đều dựa trên các thông tin sẵn có, theo Điều 18 Quy định về chống bán phá giá của EC. Kết quả là thuế chống bán phá giá chính thức đối với tất cả các nhà xuất khẩu Pakistan là 13,1%. 

4.1. Rà soát giữa kỳ do Uỷ ban tự khởi xướng

Ngày 3/8/2004, Uỷ ban ra Thông báo khởi xướng việc rà soát giữa kỳ đối với biện pháp thuế chống bán phá giá về một số vấn đề (còn gọi là rà soát bán phần) . Uỷ ban tự khởi xướng việc rà soát này (không trên cơ sở yêu cầu của bất kỳ bên liên quan nào) với lý do các thông tin mà Uỷ ban nhận được kể từ khi thực hiện biện pháp thuế đủ để cho thấy các hoàn cảnh đã thay đổi (cụ thể là các cản trở đối với việc điều tra thực địa nói trên đã không còn) và do đó cần rà soát lại biện pháp thuế để phù hợp với hoàn cảnh mới. Vì vậy, Uỷ ban đề xuất tiến hành rà soát giữa kỳ đột xuất, chỉ giới hạn ở việc rà soát biên phá giá, để các nhà xuất khẩu Pakistan có cơ hội để đưa ra các thông tin phản ánh sát thực hơn với tình hình của mình.

Về nguyên tắc, theo Điều 11.3 Quy định về chống bán phá giá của EC, các biện pháp chống bán phá giá chính thức có thể được rà soát lại trong quá trình thực thi (Rà soát giữa kỳ). Rà soát giữa kỳ có thể tiến hành theo sáng kiến của chính Uỷ ban hoặc theo yêu cầu của một nước thành viên EC. Các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc ngành sản xuất của EC cũng có thể nộp đơn yêu cầu Uỷ ban tiến hành rà soát lại nhưng với điều kiện biện pháp thuế chống bán phá giá liên quan đã thực hiện được ít nhất 1 năm. Phạm vi rà soát giữa kỳ có thể giới hạn ở một số vấn đề cụ thể (ví dụ chỉ rà soát về biên phá giá, hoặc chỉ rà soát về thiệt hại), hoặc giới hạn ở một số nhà xuất khẩu cụ thể (gọi là “rà soát giữa kỳ bán phần”). Điểm đáng lưu ý trong một cuộc rà soát lại do Uỷ ban tự tiến hành là không cần phải đợi cho đến khi biện pháp chống bán phá giá có hiệu lực 1 năm vì Uỷ ban có quyền khởi xướng việc rà soát lại vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian thực thi biện pháp chống bán phá giá.

Một lần nữa, Uỷ ban lại tiến hành chọn mẫu và đã chọn được 8 công ty (phù hợp với Điều 17 Quy định về chống bán phá giá của EC). Các bảng câu hỏi đã được gửi đi cho các công ty được lựa chọn và họ đã trả lời đúng thời hạn quy định.

4.2. Các khó khăn kỹ thuật gặp phải trong quá trình rà soát giữa kỳ theo sáng kiến của Uỷ ban

4.2.1. Khối lượng bán hàng có tính đại diện (“tiêu chí 5%”)

Giá thông thường được tính theo Điều 2 Quy định về chống bán phá giá của EC. Do đó, trước hết cần phải xác định được tổng lượng sản phẩm bán tại thị trường nội địa (trong trường hợp này là thị trường Pakistan) của mỗi nhà sản xuất xuất khẩu có đủ lớn để được xem là đại diện được cho lượng sản phẩm mà họ xuất sang EC không.

Theo đoạn 1 Điều 2.2 Quy định về chống bán phá giá của EC thì chỉ có duy  nhất 1 công ty có lượng sản phẩm tương tự bán tại thị trường nội địa được xem là “có tính đại diện” do có lượng hàng bán tại thị trường nội địa vượt quá 5% tổng lượng sản phẩm bán sang EC của công ty đó.

Ngoài công ty nói trên, có ba nhà xuất khẩu được lựa chọn khác có sản phẩm bán tại thị trường nội địa nhưng chỉ chiếm 2%, 0,5% và 0,2% lượng sản phẩm mà họ xuất sang EC. Đây là khó khăn chung của các công ty có thiên hướng xuất khẩu trong các vụ kiện chống bán phá giá (vì không có lượng bán hàng nội địa đủ lớn để được xem là “có tính đại diện”). Trong những trường hợp như vậy, để tính biên độ phá giá cho những công ty này, Uỷ ban sẽ tự tính toán giá thông thường (bằng tổng chi phí để sản xuất và bán có lãi một đơn vị sản phẩm) – còn gọi là giá thông thường “tự tính toán”.

4.2.2. Giá thông thường “tự tính toán”

Đối với các công ty đã đáp ứng được “tiêu chí 5%” nói trên (phần 4.2.1), Uỷ ban tiếp tục xem xét liệu lượng hàng bán tại nội địa này của mỗi công ty có được bán trong “điều kiện thương mại bình thường” không (bằng cách so sánh giá bán bình quân gia quyền của mỗi sản phẩm với giá thành của sản phẩm đó).

Đối với sản phẩm đáp ứng được điều kiện này (tức là có giá bán bình quân gia quyền cao hơn hoặc bằng giá thành), giá thông thường sẽ được tính bằng giá bán bình quân gia quyền thực trả của tất cả lượng sản phẩm bán nội địa đó, không quan trọng là việc bán hàng có lãi hay không.

Đối với các sản phẩm có giá bán bình quân gia quyền thấp hơn giá thành thì giá thông thường sẽ được xây dựng theo Điều 2.3 Quy định về chống bán phá giá của EC. Những công ty nào rơi vào trường hợp này sẽ bị tính giá thông thường bằng cách tính tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm dùng để xuất khẩu cộng với các chi phí hợp lý cho việc bán hàng, chi phí chung, chi phí hành chính (SG&A) và lợi nhuận (Điều 2.6 Quy định về chống bán phá giá của EC).

Trong vụ việc này, 7 nhà sản xuất xuất khẩu khác cũng bị tính giá thông thường theo cách “tự tính toán” theo quy định tại Điều 2.3 của Quy định về chống bán phá giá của EC vì không đáp ứng được điều kiện về lượng bán hàng nội địa mang tính đại diện (5%). Vì vậy, đối với tất cả các công ty này, giá thông thường được tính bằng tổng chi phí sản xuất ra loại sản phẩm để xuất sang EC cộng với một khoản chi phí SG&A và lợi nhuận hợp lý. Tuy nhiên, một vấn đề khác lại phát sinh liên quan đến việc lựa chọn số liệu về SG&A và lợi nhuận nào để tính toán giá thông thường.

Theo Điều 2.6 Quy định về chống bán phá giá của EC thì có 3 phương pháp tính SG&A và lợi nhuận để tính toán giá thông thường cho những công ty không đáp ứng được tiêu chí về lượng bán hàng nội địa có tính đại diện. Phương pháp thứ nhất (Điều 2.6(a)) dựa trên chi phí SG&A và lợi nhuận bình quân gia quyền của các nhà sản xuất xuất khẩu khác có lượng sản phẩm bán tại nội địa đáp ứng tiêu chí đại diện. Phương pháp này không thể áp dụng vì chỉ có duy nhất một nhà sản xuất xuất khẩu dạng này, trong khi theo quy định phải có ít nhất số liệu từ 2 công ty như vậy thì mới có thể tính “bình quân gia quyền”. 

Phương pháp thứ 2 (quy định tại Điều 2.6(b)) cho phép sử dụng số liệu về SG&A và lợi nhuận của sản phẩm cùng nhóm hàng bán tại thị trường nội địa của chính nhà sản xuất xuất khẩu đó. Tuy nhiên, phương pháp này cũng không được áp dụng trong vụ này vì các nhà sản xuất xuất khẩu liên quan cũng không có loại sản phẩm cùng nhóm hàng nào có lượng bán tại thị trường nội địa trong mang tính đại diện và trong điều kiện thương mại bình thường. Trong trường hợp này, các công ty có thể được xem là có bán loại sản phẩm cùng nhóm hàng nếu họ có bán những loại thành phẩm khác, ví dụ khăn trải bàn hoặc rèm cửa. Tuy nhiên, các công ty liên quan trong vụ này lại chỉ bán các loại bán thành phẩm như sợi hoặc vải, và những loại này thì không được xếp chung vào cùng nhóm với khăn lanh trải giường thành phẩm.

Phương pháp thứ 3 (quy định tại Điều 2.6(c)) cho phép sử dụng “bất kỳ một phương pháp hợp lý nào khác”, và Uỷ ban đã phải chọn cách này. Cụ thể, các chi phí SG&A và lợi nhuận đã được xác định trên cơ sở bình quân gia quyền chi phí SG&A và lợi nhuận của nhà sản xuất xuất khẩu duy nhất có lượng bán hàng tại nội địa có tính đại diện và 2 công ty khác có lượng bán hàng nội địa chiếm 2,2% và 0,2% . 

Mặc dù lượng bán hàng tại nội địa của 2 công ty này không đủ tính đại diện để tính giá thông thường của họ dựa trên giá bán hàng tại nội địa nhưng lại đủ để đảm bảo rằng các chi phí SG&A và lợi nhuận là có thể tin cậy được để tính giá thông thường “xây dựng” theo Điều 2.6 Quy định về chống bán phá giá của EC.

4.3. Áp thuế chống bán phá giá chính thức

Ngày 5/5/2006, Hội đồng EC thông qua biện pháp thuế chính thức thay thế cho biện pháp thuế áp dụng tại Quyết định trong vụ điều tra ban đầu đối với sản phẩm khăn lanh trải giường nhập khẩu từ Ấn Độ.  Biên độ phá giá được điều chỉnh lại với các công ty sản xuất xuất khẩu được lựa chọn điều tra và đã hợp tác trong quá trình điều tra là 8,5% và 1,3% (biên độ phá giá này được coi là mức tối thiểu). Mức thuế áp cho các nhà xuất khẩu hợp tác nhưng không được lựa chọn để điều tra bằng bình quân gia quyền của các mức thuế áp cho tất cả các nhà xuất khẩu được lựa chọn, tức là 5,8%. Mức thuế áp cho cho nhà xuất khẩu không hợp tác là mức cao nhất áp cho các nhà xuất khẩu hợp tác được lựa chọn, tức là 8,5%.

Mặc dù cách tính mức thuế như trên không có gì đặc biệt so với cách tính trong các vụ việc chống bán phá giá khác ở EC, phương pháp này vẫn gây tranh cãi bởi nó cho kết quả là một số nhà sản xuất xuất khẩu không được lựa chọn lại được hưởng mức thuế thấp hơn các công ty được lựa chọn điều tra vốn đã phải trải qua cả một thủ tục điều tra dài dặc và phức tạp. 

5. Kết luận

Vụ khăn lanh trải giường là một vụ kiện khá phức tạp, nó cho phép chúng ta có một cái nhìn toàn cảnh về một số vấn đề cơ bản trong các nguyên tắc và thực tiễn về chống bán phá giá của EC. Các vấn đề này bao gồm kỹ thuật chọn mẫu, các sự kiện xảy ra sau khi đã áp thuế chống bán phá giá chính thức (ví dụ như rà soát lại, đình chỉ và huỷ bỏ các biện pháp thuế chống bán phá giá) cũng như các vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc tính biên độ phá giá (ví dụ xử lý các biên phá giá âm, xây dựng giá trị thông thường khi không có lượng hàng bán nội địa đủ tính đại diện,…).

Vụ khăn lanh trải giường này cũng đặc biệt nhạy cảm về mặt chính trị bởi trong đó có sự can thiệp của quy trình xử lý tranh chấp của WTO vào biện pháp chống bán phá giá của các quốc gia. Vụ việc này cho thấy khả năng của các quốc gia thành viên WTO trong việc hành động và bảo vệ ngành sản xuất của mình vượt ra khỏi khuôn khổ một vụ điều tra chống bán phá giá mang tính hành chính bằng cách kiện trực tiếp biện pháp thuế chống bán phá giá ra một hệ thống giải quyết tranh chấp đa biên. Đây là một minh chứng cho thấy hệ thống giải quyết tranh chấp trong WTO có thể là một công cụ hữu hiệu đặc biệt đối với các nước đang phát triển để chống lại các biện pháp chống bán phá giá mà các nước thành viên phát triển của WTO áp đặt theo cách thức vi phạm các cam kết quốc tế mà họ đã tham gia. Từ góc độ này, có thể thấy là nhận thức của DSB – cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về quyền của các quốc gia đang phát triển được hưởng một sự đối xử đặc biệt và khác biệt như quy định tại Điều 15 ADA có thể được xem như một bước ngoặt đánh dấu quá trình thực thi cụ thể của các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển trong hiệp định về chống bán phá giá của WTO.

 Note:

(1)  Điều 5.4 của Quy định của Hội đồng (EC) số 384/96 ngày 22 tháng 12 năm 1995, về việc bảo hộ [ngành sản xuất trong nước] trước việc nhập khẩu phá giá từ các nước không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (“Quy định về chống bán phá giá của EC”) quy định rằng đơn kiện sẽ được coi là đã được nộp bởi ngành sản xuất hoặc đại diện cho ngành sản xuất của Cộng đồng nếu đơn kiện đó nhận được sự ủng hộ của các nhà sản xuất của Cộng đồng với tổng sản phẩm chiếm trên 50% tổng sản phẩm cùng loại của ngành sản xuất đó của cả Cộng đồng thể hiện rõ việc ủng hộ hay phản đơn kiện. Ngoài ra, sẽ không được tiến hành điều tra khi các nhà sản xuất của Cộng đồng ủng hộ đơn kiện chiếm đại diện cho dưới 25% tổng sản lượng sản xuất của sản phẩm tương tự do ngành công nghiệp của Cộng đồng sản xuất ra.

(2) Quy định về chống bán phá giá của Uỷ ban Châu Âu (EC) số 1069/97 ngày 12 tháng 6 năm 1997 về việc áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với các sản phẩm là khăn lanh trải giường cotton có xuất xứ từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan; Công báo số L 156, ngày 13 tháng 6 năm 1997, trang 11.

(3) Nghị quyết Hội đồng (EC) số 2398/97 ngày 28 tháng 11 năm 1997, về việc áp thuế chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm là khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan; Công báo số L 332 ngày 4 tháng 12 năm 1997, trang 1. Cần lưu ý rằng theo các quy định về chống bán phá giá của EC thì việc áp dụng các biện pháp tạm thời thuộc phạm vi thẩm quyền của Uỷ ban và không cần phải thông qua thủ tục bỏ phiếu chính thức của các Quốc gia thành viên (xem Điều 7.4). Do vậy, các biện pháp chống bán phá giá chính thức sẽ được Hội đồng thông qua trừ khi Hội đồng quyết định bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số để phản đối kiến nghị của Uỷ ban trong thời hạn một tháng sau khi được đệ trình (Điều 9.4). Hội đồng sẽ quyết định trên cơ sở bản sửa đổi của Quy định về chống bán phá giá của EC ngày 8 tháng 3 năm 2004.

(4) Theo Điều 9.3 của Quy định về chống bán phá giá của EC. Tuy nhiên, theo quy định này các nhà xuất khẩu có biên độ bán phá giá tối thiểu de minimis vẫn là bên liên quan trong vụ kiện và có thể bị điều tra lại trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào được Uỷ ban tiến hành sau đó.

(5)   Cụ thể xem Phán quyết của Ban Phúc thẩm, Cộng đồng Châu Âu - thuế chống bán phá giá đối với khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Ấn Độ, WT/DS141/AB/R.

(6)   Xem Phán quyết của Ban Hội thẩm, WT/DS141/R, đoạn 6.233).

(7) Quy định của Hội đồng (EC) số 1515/2001 ngày 23 tháng 7 năm 2001 về các biện pháp mà Cộng đồng có thể áp dụng theo phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về những vấn đề liên quan tới chống bán phá giá và trợ giá.

(8) Quy định của Hội đồng (EC) số 1644/2001 ngày 8 tháng 8 năm 2001, sửa đổi Quyết định (EC) số 2398/97 về việc áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm là khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Ai Cập, Ấn Độ và Pakistan và tạm ngừng việc áp dụng Quyết định này đối với sản phẩm được nhập khẩu từ Ấn Độ; Công báo số L 219 ngày 14 tháng 8 năm 2001, trang 1.

(9) Công báo số C 39 ngày 13 tháng 2 năm 2002, trang 17.

(10)  Quyết định của Hội đồng (EC) số 2239/2003 ngày 17 tháng 12 năm 2003, chấm dứt việc rà soát tạm thời từng phần và rà soát bổ sung về các biện pháp chống bán phá giá theo Quyết định số 2398/97 của EC liên quan tới các sản phẩm khăn lanh trải giường cotton có xuất xứ từ Ấn Độ; Công báo số L 333 ngày 20 tháng 12 năm 2003, trang 3.

(11) Quyết định của Hội đồng (EC) số 160/2002 ngày 28 tháng 1 năm 2002, sửa đổi Quyết định của Hội đồng (EC) số 2398/97 […] và chấm dứt vụ kiện đối với các sản phẩm nhập khẩu từ Pakistan; Công báo số L 26 ngày 30 tháng 1 năm 2002, trang 1.

(12)  Công báo số C 65 ngày 14 tháng 3 năm 2002, trang 12.

(13)   Công báo số C 316 ngày 18 tháng 12 năm 2002, trang 6.

(14) Quyết định của Hội đồng (EC) số 397/2004 ngày 2 tháng 3 năm 2004 về việc áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức đối với sản phẩm khăn lanh trải giường nhập khẩu từ Pakistan; Công báo số L 66 ngày 4 tháng 3 năm 2004, trang 1.

(15) Công báo số C 196 ngày 3 tháng 8 năm 2004, trang 2. 

(16) Đây cũng là một trong những vấn đề được Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm của WTO làm rõ trong vụ EC – Khăn lanh trải giường.

(17)  Công ty thứ ba với lượng bán hàng nội địa chiếm 0,5% cuối cùng đã không được tính đến bởi công ty này đã báo cáo rằng việc bán hàng này bị lỗ nặng, và do đó không thể được cọi là “bán hàng trong điều kiện thương mại bình thường”.

(18)   Quyết định của Hội đồng (EC) số 695/2006 ngày 5 tháng 5 năm 2006, sửa đổi Quyết định (EC) số 397/2004 về áp dụng thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm khăn lanh trải giường cotton nhập khẩu từ Pakistan; Công báo số L 121 ngày 6 tháng 5 năm 2006, trang 14.

(19)  Lưu ý là trên thực tế, khi đã khởi xướng rà soát lại, do vẫn còn những lo ngại nhất định về an ninh,,việc xác minh các dữ liệu do 08 nhà xuất khẩu được chọn vào mẫu cung cấp đã không thực hiện tại Pakistan nơi có cơ sở của các công ty này mà là tại một nước thứ ba, cụ thể là tại Cộng hòa Arab Emirates (Dubai). Cách thức hết sức đặc biệt này đã tạo ra một gánh nặng lớn về hành chính và công tác chuẩn bị cho các công ty hợp tác khi phải chuyển tới Dubai tất cả các dữ liệu và nhân sự cần thiết để phục vụ cho việc xác minh.

 

 

Các bài khác