PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng-Đại học Kinh tế quốc dân
Trong quan hệ thương mại giữa các nước, quy luật lợi thế so sánh là cơ sở lý thuyết quan trọng giải thích nguyên nhân của việc thực hiện các giao dịch. Đối với từng mặt hàng cụ thể, lợi thế so sánh đươc xác định theo nguyên tắc lợi thế so sánh của D.Ricardo và công thức tính toán thường được sử dụng là lợi thế so sánh hiện hữu (RCA- Revealed Comparative Advantage) của Balassa. Tuy nhiên, vấn đề xác định lợi thế thương mại theo đối tác hoặc bạn hàng thương mại, hay xác định lợi thế thương mại theo từng thị trường, khu vực thị trường, vùng lãnh thổ, nhóm quốc gia…gồm nhiều mặt hàng và dịch vụ khác nhau lại chưa có công thức tính toán cụ thể. Vấn đề là bằng cách nào xác định được lợi thế thương mại theo đối tác hoặc theo thị trường để làm cơ sở hoạch định các chính sách tổng thể khai thác lợi thế này có hiệu quả thông qua các quan hệ thương mại song phương với các đối tác này? Bài viết này đề xuất công thức tính toán lợi thế thương mại theo thị trường hoặc theo đối tác hay lợi thế thương mại đối tác nhằm tạo cơ sở cho những đề xuất các chính sách, công cụ và biện pháp để ứng xử trong các quan hệ thương mại đối tác.
Có một số phương pháp xác định lợi thế so sánh và mỗi cách thức xác định dựa vào một khía cạnh nhất định hoặc dựa vào các yếu tố hình thành lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh là nền tảng để xác định mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh hoặc mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một quốc gia hoặc một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Việc trao đổi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Lợi thế so sánh càng cao càng tạo khả năng cho chủ thể mang lại lợi ich từ thương mại càng lớn. Lợi thế so sánh là quy luật cơ bản của việc xây dựng cơ sở trao đổi quốc tế. Các phương pháp xác định lợi thế so sánh khác nhau đã được sử dụng phổ biến này có thể đưa đến các kết quả hoặc kết luận tương đương về việc xác định mặt hàng xuất khẩu.
Trên cơ sở quan niệm về lợi thế tuyệt đối của A. Smith khẳng định sự khác biệt tuyệt đối về chi phí lao động là cơ sở để tiến hành thương mại giữa các quốc gia, theo D. Ricardo, lợi thế so sánh là trạng thái phản ánh mối tương quan thuận lợi hơn về chi phí mà trực tiếp là chi phí về lao động sản xuất các sản phẩm của các quốc gia. Nếu quốc gia có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng thì mặt hàng có lợi thế tuyệt đối cao nhất là mặt hàng có lợi thế so so sánh. Ngược lại, một quốc gia bất lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng thì mặt hàng có bất lợi thế tuyệt đối nhỏ nhất là mặt hàng có lợi thế so sánh. Mô hình của D. Rỉcardo còn là mô hình gợi ý cách thức tổng quát trong xác định lợi thế so sánh dựa vào chi phí lao động với giả định đã được đơn giản hoá là một thế giới chỉ có hai quốc gia và hai mặt hang, công nghệ sản xuất không thay đổi, lao động là yếu tố sản xuất duy nhất chỉ di chuyển giữa các quốc gia nhưng không di chuyển trên phạm vi quốc tế, thương mại hoàn toàn tự do. Từ cách thức tổng quát này có thể áp dụng cho các trường hợp cụ thể về xác định mặt hàng có lợi thế so sánh và một điều có thể tin được là cho dù một quốc gia bất lợi thế tuyệt đối trong thương mại nhưng vẫn có thể có được lợi thế so sánh. Một quốc gia có lợi thế so sánh của một mặt hàng thì chưa hẳn mặt hàng đó đã có lợi thế tuyệt đối. Mối quan hệ giữa lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh không phải là mối quan hệ giũa các điều kiện cần và đủ cho nên lý thuyết lợi thế so sánh cần được bổ sung bằng các lý thuyết khác đề cập đầy đủ và toàn diện hơn. Tuy nhiên, công thức này không giải quyết được tình hình hai quốc gia tham gia thương mại có các mặt hàng có chi phí sản xuất giống nhau hoàn toàn.
Từ góc độ chi phí cơ hội của G. Haberler, lợi thế so sánh của một mặt hàng thể hiện ở chi phí cơ hội thấp hơn của mặt hàng đó so với chi phí cơ hội của mặt hàng khác hay giá tương đối của mặt hàng thấp hơn. Cách tiếp cận này đã khắc phục được phần nào hạn chế của mô hình D. Ricardo chỉ xem xét lợi thế so sánh thuần tuý từ góc độ chi phí lao động. Với cách tiếp cận lợi thế so sánh từ góc độ chi phí cơ hội, có thể sử dụng đồ thị để minh hoạ các khoản lợi ích thu được từ thương mại và xây dựng mô hình lý thuyết thương mại chuẩn có tính đến cả yếu tố cung và yếu tố cầu thông qua việc sử dụng các đường mô phỏng như đường giới hạn khả năng sản xuất và đường bàng quan.
Từ góc độ mức độ dồi dào tương đối của các yếu tố về lao động hoặc vốn như là sự ban phát từ tự nhiên đối với một quốc gia của lý thuyết Hecskcher- Ohlin, mặt hàng có lợi thế so sánh là mặt hàng sử dụng tương đối nhiều các yếu tố tương đối dồi dào của một quốc gia như vốn hay lao động. Quốc gia có nguồn lao động dồi dào tương đối sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng tương đối nhiều lao động còn quốc gia dồi dào tương đối về vốn sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng tương đối nhiều vốn. Như vậy, sự dồi dào về các yếu tố là nguồn gốc còn hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố dồi dào như là kết quả phái sinh từ sự dồi dào tương đối tác yếu tố. Chẳng hạn, Việt Nam là một quốc gia giàu lao động tương đối so với phần còn lại của thế giới cho nên Việt Nam nên xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như hàng dệt may, giày dép...và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn như máy bay, tàu thuỷ...Cách tiếp cận của Hecskcher- Ohlin chịu sự ràng buộc của rất nhiều giả định như thương mại hoàn toàn tự do, không có chi phí vận tải, cán cân thương mại cân bằng... Đây là những ràng buộc để làm bộc lộ rõ hơn bản chất và cơ chế xuất hiện lợi thế so sánh nhưng rất khó có thể đạt được.
Balassa (1965) đã đưa ra công thức xác định lợi thế so sánh hiện hữu RCA. Công thức được sử dụng khá phổ biến trong việc xác định lợi thế so sánh của từng mặt hàng cụ thể trong từng thời kỳ nhất định. Công thức này là một trong công cụ được sử dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu về lợi thế so sánh của các thành viên trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
RCA= 100 (Xij/Xwj)/ (Xit/Xwt)
Trong đó: RCA là chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu của mặt hàng i của nước j trong một thời kỳ nhất định. Xij là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng i của nước j trong thời kỳ tương ứng, w- thế giới, t- tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới. Chỉ số này đưa ra cách xác định mức độ lợi thế so sánh từ quan điểm cục bộ và cách nhìn có tính đơn lẻ mặc dù đã có bước tiến đáng kể trong việc khắc phục viêc xem xét lợi thế so sánh chỉ từ góc độ nguồn cung tạo ra lợi thế so sánh.
Chỉ số Balassa hay còn gọi là BalasaIndex được sử dụng phổ biến trong việc xác định lợi thế so sánh đối với từng mặt hàng của một quốc gia hoặc doanh nghiệp, ngành hàng đến từng thị trường cụ thể mà không tính được cho cả một danh mục hay một gói hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia khi thực hiện giao dịch với từng đối tác cụ thể. Quan hệ thương mại với từng đối tác trong nhiều trường hợp có ý nghĩa quyết định đến trình độ phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu sự phát triển thương mại của các quốc gia mà chí số này chưa phản ánh được một cách triệt để và toàn diện. Bên cạnh đó, chỉ số này phụ thuộc rất nhiều vào kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia, sự biến động của giá trị tiền tệ...và mức độ biến động của nhu cầu thị trường nhập khẩu về mặt hàng.
2. Đề xuất công thức tính toán lợi thế thương mại đối tác
Từ những nhận định trên đây, có thể thấy bản chất của lợi thế nói chung và lợi thế trong quan hệ thương mại nói riêng đều xuất hiện từ sự khác nhau trong đó có sự khác nhau về giá cả, chi phí tương quan hoặc các yếu tố cấu thành nên thế mạnh giữa các bên tham gia thương mại. Những sự khác biệt đó có thể được xem xét từ sự khác biệt trực tiếp hoặc khác biệt gián tiếp, khác biệt tương đối hoặc tuyệt đối và khác biệt cục bộ hoặc khác biệt tổng thể.
Lợi thế là một phạm trù đồng thời là một đại lượng thường xuyên thay đổi vì nó được hình thành trên cơ sở mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố thường xuyên thay đổi. Việc nhận dạng, đánh giá, nuôi dưỡng và chuyển hoá lợi thế là một việc làm cần được tiến hành thường xuyên để phù hợp với bản chất “động” của nó. Hơn nữa, mặc dù lợi thế so sánh là căn cứ để xác định các mặt hàng đưa ra để xuất khẩu song thực tế trao dổi quốc tế cho thấy, không phải mặt hàng nào đưa ra trao đổi quốc tế đều là các mặt hàng có lợi thế so sánh mà có thể có tình trạng một số mặt hàng không có lợi thế so sánh cũng được đưa ra để trao đổi. Vì thế, nều chỉ sử dụng công thức đo lường lợi thế so sánh chỉ để tính toán lợi thế so sánh của từng mặt hàng sẽ không đánh giá hết được các lợi thế thương mại đặc biệt là lợi thế trong quan hệ thương mại với từng loại đối tác có những đặc thù về chế độ chính trị, pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, tiềm lực công nghệ, dung lượng thị trường…thậm chí các công ty xuyên quốc gia để có đối sách tương ứng. Hơn nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng nhanh chóng và sâu rộng hiện nay, các quan hệ song phương và đa phương gia tăng với tốc độ ngày càng lớn, việc tính toán lợi thế thương mại đối tác ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Đó là căn cứ để công thức xác định lợi thế thương mại đối tác được xây dựng nhằm bổ sung và phát triển công thức xác định lợi thế so sánh hiện hữu (RCA). Nếu RCA được sử dụng để xác định các “điểm” có lợi thế so sánh như RCA1, RCA2, RCA3 hoặc RCA4 của các mặt hàng tương ứng là A, B, C và D của quốc gia V so với quốc gia đối tác thì PCA sẽ được sử dụng để xác định “diện” có lợi thế thương mại bao gồm lợi thế tổng thể của tất cả các mặt hàng A, B, C và D thậm chí cả các loại dịch vụ được xuất khẩu của quốc gia V so với quốc gia đối tác- một phạm trù rộng hơn so với phạm trù lợi thế so sánh. Tất nhiên, điểm chung của cả hai công thức này là đều xác định lợi thê tại một thời điểm và nó phụ thuốc rất lớn vào chất lượng của nguồn số liệu thu thập được. (xem Hình 1)
Hình 1: Mối quan hệ giữa RCA và PCA

Nguồn: Tác giả xây dựng
Lợi thế thương mại của một quốc gia đối với từng đối tác gọi tắt là lợi thế thương mại đối tác (Partnership Commercial Advantage) được xác định căn cứ vào quan hệ tương quan của tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của cả quốc gia với đối tác trong một thời kỳ với tỷ lệ giữa tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của quốc gia đó trong thời kỳ tương ứng. Chỉ số đo lường lợi thế thương mại đối tác này gọi tắt là PCA hoặc LangIndex. Nó chỉ được sử dụng để đo lường lợi thế thương mại của một quốc gia so với đối tác trong một thời kỳ mà không đo lường lợi thế của quốc gia so với đối tác về đầu tư hoặc các lĩnh vực khác. Đồng thời, công thức này được sử dụng để đo lường lợi thế thương mại tổng hợp của một quốc gia với đối tác thương mại mà không đo lường chi tiết lợi thế so sánh từng mặt hàng cụ thể.
Công thức tính toán như sau:
PCA = (Ep/Ip)/( ER/IR)
Trong đó:
Nếu PCA <1, quốc gia không có lợi thế thương mại đối tác
Nếu PCA = 1- 2.5, quốc gia có lợi thế thương mại đối tác
Nếu PCA = 2.5- 5.0, quốc gia có lợi thế thương mại đối tác cao
Nếu PCA > 5.0, quốc gia có lợi thế thương mại đối tác rất cao
Công thức này có một số ưu điểm so với công thức RCA của Balassa, thể hiện:
- Cho phép đo lường lợi thế thương mại tổng hợp của một quốc gia so với một đối tác thương mại về danh mục nhiều mặt hàng khác nhau với các lợi thế so sánh khác nhau kể cả dịch vụ chứ không chỉ đánh giá lợi thế so sánh của một mặt hàng cụ thể. Từ hai quốc gia, có thể khái quát hoá hoá công thức này thành công thức đánh giá quan hệ thương mại giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới nghĩa là nó có thể sử dụng để đánh giá lợi thế thương mại quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Đây là căn cứ để xác định lợi thế và định vị nền thương mại quốc gia trong khu vực hoặc nền kinh tế thế giới.
- Có thể sử dụng để phát hiện, đánh giá khả năng và chiều hướng vận động tổng thể của quan hệ thương mại song phương, tạo cơ sở để hoạch định chiến lược, chính sách và các biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các bên hoặc tạo cơ sở để đàm phán ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại song phương hoặc hiệp định thương mại đối tác. Công thức này có thể sử dụng để tính toán lợi thế theo giai đoạn 6 tháng hoặc một năm hoặc trong những thời kỳ cần thiết phải đo lường. Những lợi thế của công thức này thể hiện:
- Phản ánh được lợi thế thương mại ở góc độ khái quát bao hàm cả những mặt hàng xuất khẩu có lợi thế so sánh và những mặt hàng xuất khẩu không có lợi thế so sánh. Do đó, nó bảo đảm được tính chất bao quát của các kết quả tính toán về lĩnh vực thương mại.
- Tạo cơ sở để xác định ngưỡng hoặc giới hạn hợp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động xuất khẩu hoặc nhập khẩu phục vụ mục tiêu cải thiện lợi thế thương mại đối với đối tác, có giải pháp thoả đáng để chuyển quốc gia từ trạng thái bất lợi về thương mại sang trạng thái có lợi. Chẳng hạn, với việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng và dịch vụ của quốc gia với thế giới, lợi thế thương mại của quốc gia có thể đựơc cải thiện đáng kể và do đó, có thể dự báo được xu hướng thay đổi vị thế thương mại của quốc gia trong nền kinh tế thế giới hoặc với từng đối tác cụ thể.
Tuy nhiên, công thức PCA không cho phép tính toán và xác định lợi các lợi thế thương mại tiềm tàng dựa trên cơ sở các nguồn lực sẵn có trong nước hoặc ngoài nước. Các chỉ số tính toán phụ thuộc nhiều vào đơn vị đo lường giá trị đặc biệt là mức độ ổn định của đồng tiền tính toán. Nêu cả hai quốc gia có chỉ số PCA như nhau thì hai quốc gia vẫn có thể duy trì và phát triển quan hệ thương mại khác với quan điểm của D.Ricardo, nếu hai quốc gia hoàn toàn gi ống nhau về mặt hàng và cơ cấu chi phí thì không thể xác định được mặt hàng có lợi thế so sánh. Đồng thời, một trong những giả định quan trọng nhưng rất khó đáp ứng của mô hình D. Ricardo là thương mại hoàn toàn tự do cho nên lợi thế so sánh thường bị biến dạng.
3. Kiểm định công thức
Công thức trên cần được kiểm định bằng thực tiễn quan hệ thương mại song phương để khẳng định tính đúng đắn, sự phù hợp cũng như những hạn chế có thể của nó hay những biến thể của công thức trong những trường hợp ngoại lệ…Dưới đây là các trường hợp cụ thể được đưa ra để kiểm định công thức.
* Trường hợp lợi thế thương mại đối tác của Việt Nam với Hoa Kỳ
Giả sử năm 2008 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ là 8 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ là 3 tỷ USD, tổng kim ngach xuất khẩu của Việt Nam là 60 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 72 tỷ U SD. Vạn dụng công thức trên, có thể tính được chỉ số PCA của Việt Nam so với Hoa Kỳ là: (8/3)/(60/72)= 3.2. Như vậy, Việt Nam có lợi thế thương mại đối tác cao so với Hoa Kỳ. Đây là thị trường mà Việt Nam có khả năng phát triển mạnh quan hệ thương mại trong thời gian tới. Kết quả tính toán cho thấy, các giải pháp của chính phủ và doanh nghiệp nên hướng nỗ lực phát triển quan hệ thương mại tới thị trường này để tăng thêm lợi thế. Khi lợi thế thương mại đối tác càng cao, khả năng thu lợi ích từ việc phát triển các quan hệ thương mại với đối tác sẽ càng lớn và động lực để thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển càng mạnh.
Giả sử các số liệu thương mại của Hoa Kỳ là tổng kim ngạch xuất khẩu 1200 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 1500 tỷ USD năm 2008, chỉ số PCA của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là (3/8)/(1200/1500) = 0.46875. Như vậy, Hoa Kỳ không có lợi thế thương mại đối tác với Việt Nam cho nên nếu Hoa Kỳ đẩy mạnh việc nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam thì phù hợp hơn với xu hướng so với việc xuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam.
Giả sử kim ngạch xuất khẩu của Tung Quốc sang Hoa Kỳ là 230 tỷ USD, và kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc từ Hoa Kỳ là 115 tỷ USD năm 2008 trong khi đó, tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc năm 2008 tương ứng là 1000 tỷ USD và 800 tỷ USD. Vận dụng cố thức trên có thể tính toán PCR của Trung Quốc so với Hoa Kỳ là PCA= (230/115)/(1000/800) = 1.6. Như vậy, Trung Quốc có lợi thế thương mại đối tác với Hoa Kỳ nhưng lợi thế này không phải ở mức cao và Trung Quốc có thể tận dụng triệt để lợi thế này để thu lợi ích từ phát triển quan hệ thương mại đa dạng với đối tác Hoa Kỳ. Tuy nhiên, do lợi thế này không cho cao nên Hoa Kỳ có thể điều chỉnh được lợi thế này bằng những giải pháp hữu hiệu trong trường hợp Trung Quốc không có giải pháp vượt trội.
Phần còn lại của thế giới có thể xem là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Giả sử kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2008 của thế giới tương ứng là 12 nghìn tỷ USD và 15 nghìn tỷ USD, còn kim ngạch xuất- nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ tương ứng là 60 và 72 tỷ USD. Chỉ số PCA của Việt Nam với phần còn lại của thế giới là PCA = (60/72)/(12 /15) = 1.0416. Như vậy, Việt Nam có lợi thế thương mại đối tác so với phần còn lại thế giới. Để cải thiện chí số này, Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu và giảm nhập khẩu hợp lý trong từng giai đoạn thích hợp và điều này có thể tạo lợi ích to lớn đối với Việt Nam khi hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thé giới.
Từ các trường hợp kiểm định bằng số liệu cụ thể trên đây, có thể khẳng định, công thức lợi thế thương mại đối tác (PCA) là một thước đo quan trọng và hữu hiệu nhằm đo lường lợi thế thương mại đối tác tổng thể với các trạng thái: rất cao, cao, trung bình hoặc thậm chí không có của một quốc gia với một nước bạn hàng là quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc thậm chí của một nhóm nhiều quốc gia trong một giai đoạn nhất định. Công thức này tạo cơ sở về mặt phương pháp tính toán lợi thế thương mại đối tác để các nước có chính sách phù hợp và doanh nghiệp có chiến lược và giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển quan hệ thương mại phù hợp với lợi ích của các bên trong từng giai đoạn. Công thức này là sự bổ sung có ý nghĩa đối với các công thức hoặc phương pháp tính toán năng lực thương mại quốc gia được sử dụng phổ biến hiện tại như kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu, cán cân thương mại hoặc chỉ số lợi thế so sánh…
Danh mục tài liệu tham khảo