Hội thảo tập huấn “Quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan trong các FTA Việt Nam - EU và Việt Nam - Hàn Quốc: Những vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm”

25/11/2016

Ngày 10/8/2016, tại TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Dự án EU- MUTRAP phối hợp với Sở Công Thương Đồng Nai tổ chức Hội thảo tập huấn “Quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan trong các FTA Việt Nam – EU và Việt Nam - Hàn Quốc: Những vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm”. Hội thảo nhằm hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp nắm vững nội dung về Quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan trong các Hiệp định FTA Việt Nam - EU và Việt Nam - Hàn Quốc.

Sự kiện là một trong chuỗi các hội thảo của Dự án EU-MUTRAP tổ chức trong năm 2016-2017 nhằm phổ biến cho doanh nghiệp các cam kết quan trọng trong các Hiệp định FTA.

Thông qua một số bài trình bày về hai nội dung quan trọng của hiệp định FTA là quy tắc xuất xứ và biện pháp phi thuế quan, các chuyên gia đến từ nhiều bộ ngành trực tiếp tham gia vào đàm phán hiệp định (Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thương), Văn phòng SPS, Văn phòng TBT và Tổng Cục Hải quan (Bộ Tài chính) đã nêu bật những điểm lưu ý mà doanh nghiệp cần quan tâm để có thể vận dụng đúng nhằm được hưởng thuế ưu đãi như cam kết.

Ngoài ra, các chuyên gia còn đưa ra các bài tập thực hành để xác định cách tính xuất xứ đúng theo những cam kết, qua dó doanh nghiệp hiểu rõ và có thể vận dụng để tự xác định được xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu của mình khi xuất sang EU và Hàn Quốc.

Về SPS, mức độ cam kết trong Hiệp định VKFTA không sâu, chủ yếu tập trung vào hợp tác kỹ thuật trong khi Hiệp định EVFTA có các quy định chi tiết, đặc biệt là Thanh kiểm tra, Công nhận tương đương, Tương thích với điều kiện khu vực. Trong quá trình triển khai, có thể thấy rõ những thách thức sau: Việc thực thi giải quyết các vấn đề SPS phải đối mặt với một phạm vi lớn các quy định pháp lý của quốc gia trong kiểm soát nhập khẩu, liên quan đến nhiều cơ quan chuyên môn; Sự khác biệt về trình độ phát triển, quy định khác biệt về SPS và thực tiễn áp dụng tại mỗi quốc gia; Các biện pháp phi thuế quan đóng vai trò quan trọng trong đàm phán thương mại mở cửa thị trường; và Chủ nghĩa bảo hộ vẫn còn tồn tại. Vì vậy, doanh nghiệp cần cập nhật tốt các thông tin về quy định SPS của các nước và đặc biệt là các tiêu chuẩn hài hòa của ASEAN, tập trung vào chất lượng, an toàn thực phẩm, xây dựng hình ảnh nông sản Việt Nam thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, và có chiến lược thị trường rõ ràng và hiểu tâm lý, phong tục, tôn giáo của người tiêu dung nước nhập khẩu.

Có thể nói, trong lĩnh vực TBT, việc tuân thủ với các yêu cầu TBT là điều kiện tiên quyết để các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể tiếp cận với thị trường EU, Hàn Quốc và thế giới. Các hiệp định FTA tạo ra một khung khổ về hỗ trợ kỹ thuật, thảo luận và hợp tác về các vấn đề TBT, khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc tuân thủ của hàng xuất khẩu của Việt Nam với các các đối tác. Các hiệp định FTA còn có thể thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất cung ứng sản phẩm toàn cầu, thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp. Các hiệp định FTA sẽ tạo ra một khung khổ pháp lý chặt chẽ về TBT, góp phần nâng cao tính minh bạch hóa, tính ổn định và tính dự báo được, thúc đẩy hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp của cả Việt Nam và các đối tác khác.

Trong lĩnh vực hải quan và thuận lợi hóa thương mại, những cam kết về thủ tục và hợp tác hải quan, và cam kết pháp chế sẽ giúp cơ quan hải quan tiếp cận được với những chuẩn mực mới, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại và giúp công tác quản lý hải quan hiệu quả và năng động hơn. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, Việt Nam trong thời gian tới phải tiếp tục nâng cao năng lực của cán bộ công chức làm trong lĩnh vực hải quan, xây dựng tốt hệ thống thông tin và quản lý rủi ro, đổi mới phương pháp quản lý. Số thu thuế xuất nhập khẩu cùng sẽ bị tác động lớn bởi những cam kết này.

Qua Hội thảo, các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp có thể tận dụng tốt những quy định về Quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan trong các Hiệp định FTA, góp phần giúp hàng xuất khẩu Việt Nam xâm nhập hiệu quả hơn vào thị trường EU và Hàn Quốc. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng ưu thế cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực nhờ có được lợi thế về cắt giảm thuế quan từ những hiệp định này.

Nguồn: EU-MUTRAP